Home | Diển đàn | Giới Thiệu | Tư vấn Sức khỏe
Đăng ký | Đăng nhập
 




Thăm dò ý kiến
Đánh giá của bạn về thông tin trên website
Phong phú
Bình thường
Cần bổ sung
Rất kém

Bạn đang xem Nội tiêu hóa
 trong   Nội khoa
2/5/2010 16:23:46
Hội chứng trào ngược dạ dày - thực quản
(Yduocvn.com) -

( TS. BS. Đặng Thị Kim Oanh 

I. Đai cương:

1. Định nghĩa: hội chứng trào ngược dạ dày-thực quản là sự bất thường về số lần và số lượng dịch vị hoặc thức ăn trào ngược từ dạ dày lên thực quản mà không do nguyên nhân thực thể nào. HCTNDD-TQ là một loại rối loạn chức năng của đường tiêu hoá trên và có thể kèm theo rối loạn chức năng của ruột (hội chứng ruột kích thích)

2. Dich tễ học:

2.1. Tỉ lệ mắc bệnh:

Khó có thể đưa ra tỉ lệ mắc bệnh ở Việt Nam do sự không chắc chắn trong chẩn đoán bệnh và sự không đồng bộ về quản lý bệnh nhân, về tính thống kê giữa các cơ sở y tế.

Theo nghiên cứu tại khoa thăm dò chức năng của bệnh viện Bạch Mai tỉ lệ này là 7,7%.

ở châu Âu tỉ lệ mắc bệnh là 15-20%, ở Nhật bản là 16% và ở Trung Quốc là 15%

2.2. Đặc điểm tuổi, giới

-  Tuổi: Thường gặp ở những người trên 40.

-  Giới: Nam gặp nhiều hơn nữ.

II. Bệnh nguyên, bệnh sinh:

1. Bệnh nguyên

Hiện nay, nguyên nhân gây bệnh vẫn chưa rõ song người ta tìm thấy một số yếu tố nguy cơ sau.

-  Yếu tố gen: người ta nhận thấy ở một số gia đình có nhiều người cùng bị bệnh trào ngược dạ dày - thực quản.

-  Giải phẫu học: một số bệnh nhân có thực quản ngắn, khối u thực quản, thoát vị hoành.

-  Tuổi: thường gặp ở những người trên 40.

-  Giới: nam gặp nhiều hơn nữ.

-  Béo phì

-  Chế độ sinh hoạt: thói quen ăn 1 số thức ăn làm giảm trương lực cơ thắt (cà phê, sô cô la, các đồ uống có nhiều ga...), điều trị bằng các thuốc chẹn can xi ...

2. Bệnh sinh

Các tổn thương thực quản do trào ngược gây ra phụ thuộc vào thời gian tiếp xúc của thực quản với các chất trào ngược, mức độ trào ngược, độ acid của chất trào ngược, khả năng chống đỡ của thực quản.

HCTNDD-TQ là hậu quả của những bất thường về vận động của dạ dày thực quản và thường kèm theo những vận động bất thường khác ở ống tiêu hoá.

2.1. Tại thực quản 

 Suy cơ thắt dưới thực quản: cơ thắt dưới TQ được cấu tạo bên trong là cơ trơn, bên ngoài là cơ vân tạo thành một lớp cơ dày khá chắc. Mặt khác, tại đây các lớp niêm mạc dày lên làm cho vùng này có áp lực thường xuyên cao hơn áp lực trong dạ dày, ngăn cản các đợt trào ngược từ dạ dày lên thực quản. Khi cơ thắt bị suy, cơ thắt giãn ra trong thời gian dài và không liên quan đến động tác nuốt

-  Thoát vị hoành: lỗ tâm hoành bao quanh 1/2 dưới của cơ thắt dưới có tác dụng tăng cường cho cơ thắt dưới như một gọng kìm. Khi cơ hoành co thì lỗ tâm hoành khép lại chặt hơn làm tăng cường sực mạnh cho cơ thắt dưới, ngăn cản tình trạng trào ngược khi áp lực trong ổ bụng tăng do các hoạt động gắng sức sinh lý (ho, hắt hơi). Như vậy, thoát vị hoành làm tăng khả năng TN DD-TQ.

-  Sự làm sạch thực quản: phụ thuộc vào lượng nước bọt nuốt vào và sự nguyên vẹn của nhu động thực quản. Khi nhu động TQ bị rối loạn và/ hoặc lượng nước bọt giảm dẫn tới sự rối loạn cơ chế thanh thải acid.

2.2. Tại dạ dày:

-  Chậm thoát thức ăn: các chất trong dạ dày chậm lưu thông xuống ruột (bao gồm cả acid và pepsin) do đó làm tăng áp lực trong dạ dày và dễ trào ngược thức ăn cùng dịch vị lên thực quản.

-  Sự tăng áp lực trong ổ bụng khi ho, hắt hơi, gắng sức đều có thể gây ra trào ngược do tăng áp lực trong dạ dày.

Thực quản khi tiếp xúc với dịch vị tái đi tái lại kéo dài sẽ dẫn đến tổn thương niêm mạc và xuất hiện các triệu chứng lâm sàng.

 

III. Lâm sàng

Khai thác bệnh sử là bước quan trọng nhất và đơn giản nhất để định hướng chẩn đoán HCTNDD-TQ đối với thể điển hình. Chẩn đoán lâm sàng dựa vào hỏi bệnh chi tiết để phát hiện triệu chứng cơ năng như: nóng rát sau xương ức, ợ chua, đau ngực không do tim, nuốt đau, nuốt khó và thăm khám lâm sàng tỉ mỉ để chẩn đoán bằng cách loại trừ các bệnh lý thực thể khác.

Vị trí đau nhiều khi ở ngay thượng vị nên người bệnh dễ ngộ nhận là bị “đau dạ dày” và khi nội soi không thấy tổn thương tại dạ dày-thực quản đã làm cho nhiều thày thuốc trở nên lúng túng trong chẩn đoán.

1. Đặc điểm đau do HCTNDD-TQ điển hình bao gồm:

-  Nóng rát:

+  Bệnh nhân có cảm giác nóng vùng thượng vị lan lên sau xương ức, lan lên trên. Nóng rát sau bữa ăn và đêm phải khiến bệnh nhân phải thức dậy nhiều lần thường xảy ra ở những người có viêm thực quản nặng.

+  Thường xuất hiện hoặc tăng lên sau ăn, khi cúi hoặc khi nằm ngửa.

+  Các yếu tố làm đau tăng, kéo dài cơn đau như: ăn nhiều, uống rượu, cà phê, sô cô la.

+  Nóng rát sau xương ức có thể bớt khi dùng các thuốc trung hoà acid, uống nước, ngồi hay đứng dậy.

-  ợ chua:

+  Bệnh nhân thấy chua trong miệng sau khi ợ, triệu chứng xuất hiện sau ăn, khi nằm, khi thay đổi tư thế và về đêm.

+  Thường ợ chua xảy ra sau khi ợ nóng

+  Vào ban đêm: có thể có những cơn ho, khó thở rồi ợ chua.

Tuy nhiên chỉ khi tần xuất các triệu chứng xảy ra nhiều và kéo dài hơn thì mới là bệnh lý.

 Xác định chẩn đoán dựa theo tiêu chuẩn Rome II:

Thời gian xuất hiện các triệu chứng kéo dài ít nhất 12 tuần (không cần liên tục) trong một năm, ít nhất một lần trong một tuần. 

2. Thể không điển hình:

-  Biểu hiện tại cơ quan tiêu hoá.

+  Nuốt khó: cảm giác vướng, nghẹn khi nuốt thức ăn độ 15 giây. Hiện tượng này là hậu quản của thực quản bị phù nề, co thắt hoặc hẹp. Trong viêm trào ngược gây hẹp thực quản, lúc đầu nuốt khó với thức ăn đặc sau với thức ăn sệt rồi thức ăn lỏng.

+  Nuốt đau: là hiện tượng đau sau xương ức khi nuốt. Khi kết hợp với các triệu chứng khác của trào ngược thì đó là biểu hiện viêm thực quản nặng do trào ngược.

-  Các triệu chứng ngoài cơ quan tiêu hoá

+  Đau ngực không do tim: đặc điểm cơn đau có tính chất đau rát sau xương ức lan lên vai, sau lưng, lên cung răng hoặc đau tại một điểm như trong họng. Những bệnh nhân này thường phàn nàn đau bất thình lình, ngắt quãng không liên quan đến ăn, lao động nặng và gắng sức, đáp ứng kém với các thuốc giãn vành. Dù rằng các triệu chứng này liên quan với hội chứng trào ngược nhưng trước tiên cần làm thăm dò khác để chẩn đoán loại trừ các bệnh lý về mạch vành, các rối loạn chức năng vận động thực quản.

+  Các triệu chứng tại phổi:

+  Khó thở về đêm do acid dạ dày gây ra co thắt đường thở. Đây là một triệu chứng đặc biệt xảy ra ở những trường hợp trào ngược dạ dày thực quản trầm trọng. Biểu hiện bệnh lý hô hấp có thể là kết quả của sự chít hẹp phế quản và sự chít hẹp của phế quản được khẳng định bởi sự tấn công của acid đối với lớp nhầy thực quản. Khó thở không đáp ứng với các thuốc giãn phế quản và long đờm nhưng khi dùng các thuốc chống trào ngược thì cơn khó thở giảm đi một cách rõ rệt.

+  Các triệu chứng tại họng: Sự rối loại âm thanh xuất hiện với tần xuất tương đối cao (trên 25% các triệu chứng ngoài cơ quan tiêu hoá). Các rối loạn bao gồm: sự khàn giọng, khó phát âm kèm ho do co thắt từng lúc, viêm họng diễn biến mạn tính và tăng dần , tái đi tái lại.

+  Các triệu chứng ở mũi:

Triệu chứng này được bệnh nhân mô tả đau như có vật thể lạ mà không lí giải được làm bệnh nhân lo lắng, đòi hỏi sự chăm sóc như là bệnh cảnh của hysteria.

Biểu hiện dị cảm mũi này xảy ra khi nuốt nước bọt, mất đi khi ăn.

Điều trị chống trào ngược làm giảm triệu chứng hầu hết các trường hợp.

Triệu chứng lâm sàng của trào ngược dạ dày thực quản có khi rất nhẹ nhưng có khi rất rầm rộ làm ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống người bệnh. Nóng rát sau xương ức và ợ chua là hai triệu chứng thường gặp với tỷ lệ cao, có giá trị gợi ý cho chúng ta về chẩn đoán lâm sàng. Dựa vào hai triệu chứng này có thể chẩn đoán được tới 90% các trường hợp trào ngược. Trong trường hợp này cần tiến hành điều trị thử theo phác đồ chuẩn. Nếu có kết quả sau 4- 8 tuần điều trị thì càng khẳng định chẩn đoán.

3. Thăm khám thực thể: 

Thường không giúp ích nhiều cho chẩn đoán HCTNDD-TQ vì hầu như không có các triệu chứng thực thể.

Mục đích của thăm khám thực thể nhằm phát hiện các triệu chứng của các bệnh lý khác nên giúp ích cho chẩn đoán phân biệt nhiều hơn.

 

4. Khai thác tiền sử:

-  Tiền sử dùng các thuốc chẹn can xi. Nếu triệu chứng đau xuất hiện tăng lên sau khi dùng thuốc, gợi ý nhiều cho chẩn đoán bệnh.

-  Tiền sử gia đình cũng địnhh hướng chẩn đoán HCTNDD-TQ. Trong gia đình có thể có nhiều người bị HCTNDD-TQ.

-  Tiền sử có hội chứng ruột kích thích: HCTNDD-TQ thường gặp nhiều hơn ở những bệnh nhân có hội chứng ruột kích thích.

IV. Đánh giá các xét nghiệm cận lâm sàng:

1. Các xét nghiệm máu: không cần thiết để chẩn đoán HCTNDD-TQ không biến chứng.

-  Hồng cầu giảm nhược sắc, giảm huyết sắc tố là biểu hiện của biến chứng chảy máu mạn tính do viêm loét thực quản nặng..

-  Các xét nghiệm khác (transaminase, amylase máu, khí máu) giúp ích cho chẩn đoán phân biệt với các bệnh khác khi triệu chứng của HCTNDD-TQ không rõ ràng.

2. Chẩn đoán hình ảnh: 

2.1. Chụp dạ dày cản quang:

-  Chụp Xquang thông thường có thể phát hiện bất thường về giải phẫu: thoát vị hoành, hẹp, loét, ung thư, khối u thực quản.

-  Chụp đối quang kép có thể phát hiện được bất thường như viêm thực quản, chợt, loét nông nhỏ, thực quản Barret. Giá trị của chụp đối quang kép còn nhiều hạn chế so với nội soi dạ dày-thực quản do chỉ phát hiện được 25% viêm thực quản nhẹ, 82% viêm thực quản trung bình và 99% trường hợp viêm thực quản trầm trọng.

2.2. Nội soi:

-  Nội soi kết hợp sinh thiết mang đến nhiều thông tin giá trị, giúp mô tả hình thái mức độ tổn thương cũng như chẩn đoán phân biệt với các bệnh lí khác tại dạ dày-thực quản.

-  Nội soi giúp quan sát tổn thương niêm mạc dù rất nhỏ (phù nề, xung huyết, xuất huyết, loét chợt nông) và các tổn thương rộng( loét, hẹp, thực quản Barret) đồng thời lấy các mảnh sinh thiết giúp chẩn đoán mô bệnh học.

-  Tuy vậy nội soi không phải là biện pháp tối ưu để chẩn đoán vì có nhiều trường hợp có HCTNDD-TQ nhưng không có tổn thương nội soi (được gọi là HCTNDD-TQ không viêm loét).

3. Các thăm dò khác

3.1. Đo áp lực thực quản:

-  Giá trị: xác định trương lực cũng như sức kháng của cơ thắt trên và dưới của thực quản. Cần ghi áp lực ở nhiều mức độ để nghiên cứu, phân tích các hoạt động co giãn lúc nghỉ, luc nuốt và sau nuốt.

-  Phương pháp này nói chung ít áp dụng để chẩn đoán HCTN DD-TQ. Tuy nhiên nên làm cho những bệnh nhân có chỉ định phẫu thuật điều trị trào ngược. Nếu áp lực thực quản thấp, người ta dùng biện pháp tăng cường trương lực cơ thắt bằng phẫu thuật.

-  Xét nghiệm này chỉ xác định được hiện tượng trào ngược khi áp lực co thắt thực quản dưới thấp hơn 6mmHg

3.2. Test bơm dung dịch acid của Berstein.

-  Phương pháp: bơm dung dịch natriclorua 0,9% vào thực quản trong vòng 15 phút, sau đó bơm dung dịch HCl 0,1N với tốc độ 100 – 200 giọt/phút

-  Kết quả được coi là dương tính khi bệnh nhân xuất hiện đau rát sau xương ức và giảm đi khi bơm lại dung dịch nước muối 0,9%. Đau rát gây ra có thể là do kích thích các đoạn cuối thần kinh của lớp cơ niêm. ở người bình thường, lớp nhầy của lớp biểu mô ngăn cản acid xâm nhập vào. Trường hợp có viêm thực quản do trào ngược, lớp nhầy mỏng đi nên không còn là một hàng rào có hiệu quả nữa.

-  Nhược điểm: không đo được nồng độ acid trào vào thực quản, không phát hiện được những tổn thương thực quản, nó chỉ cho biết hiện tượng tăng cảm giác đau của thực quản đối với acid và kết quả âm tính cũng không loại trừ được trào ngược dạ dày - thực quản.

3.3. Đo pH thực quản:

-  Giá trị:

+  Xác định sự phơi nhiễm của acid ở thực quản, đặc biệt có giá trị chẩn đoán khi hình ảnh nội soi không có tổn thương. Có tới 50% bệnh nhân có triệu chứng trào ngược có hình ảnh nội soi bình thường hay còn gọi là "trào ngược có nội soi âm tính", "trào ngược không có loét chợt".

+  Là “tiêu chuẩn vàng“ để chẩn đoán HC TNDD-TQ thể không có triệu chứng điển hình, hoặc thể có các triệu chứng dai dẳng với hình ảnh nội soi và X quang bình thường hoặc

+  Đánh giá sự thất bại của liệu pháp điều trị thuốc để cân nhắc phẫu thuật can thiệp.

-  Sử dụng test pH thực quản với điều kiện chuẩn có độ nhạy 96% và độ đặc hiệu 95%.

 

IV. Các biến chứng:

Tuỳ thuộc mức độ trào ngược và thâm niên bệnh, các biến chứng có thể diễn biến qua các giai đoạn sau:

1. Viêm thực quản trào ngược: phát hiện qua nội soi dạ dày-thực quản. Mức độ nhẹ đến nặng của viêm được phân loại theo tiêu chuẩn của Los Angeles:

-  Độ A: có một hoặc nhiều tổn thương không kéo dài quá 5 mm kể từ tâm vị, không kéo dài đến giữa 2 đỉnh nếp niêm mạc.

-  Độ B: có một hoặc nhiều tổn thương kéo dài quá 5 mm, không kéo dài giữa 2 đỉnh nếp niêm mạc.

-  Độ C: có một hoặc nhiều tổn thương nối liền giữa 2 đỉnh của 2 hay nhiều nếp niêm mạc nhưng không xâm phạm quá 75% chu vi ống thực quản.

-  Độ D: có một hoặc nhiều tổn thương niêm mạc xâm phạm quá 75% chu vi ống thực quản.

2. Loét thực quản: tổn thương viêm và xói mòn xuống dưới lớp cơ niêm gây nên các ổ loét dài và sâu. Đặc điểm các ổ loét do HCTNDD-TQ thường từ tâm vị kéo dài lên trên, khong bao giờ gây ra các ổ loét đơn độc nằm ở đoạn 1/3 trên hoặc giữa thực quản

3. Hẹp thực quản: các ổ loét sâu dần dần bị xơ hoá làm lòng thực quản bị hẹp lại và gây nuốt nghẹn, nuốt khó

4. Thực quản Barret: niêm mạc thực quản bị phơi nhiễm acid lâu ngày gây ra nhiều ổ loét chạy dài từ tâm vị lên và niêm mạc tại vùng này thay đổi cấu trúc giống niêm mạc thực quản. Thực quản Barret có nguy cơ cao chuyển thành ung thư thực quản

5. Ung thư thực quản: là hậu quả cuôic cùng của viêm loét thực quản do trào ngược.

V. Các bước tiến hành chẩn đoán HCTNDD-TQ

1. Điều trị thử: dù rằng để khẳng định chắc chắn HCTNDD-TQ đo pH thực quản nhưng thực tế rất khó áp dụng vì không có đủ phương tiện và quá phức tạp. Vì vậy cần đề ra các bước chẩn đoán sát thực và có tính khả thi phù hợp với điều kiện của các tuyến y tế.

Khai thác kỹ tính chất đau và điều trị thử theo hướng HCTNDD-TQ là lựa chọn đầu tiên cho các thày thuốc. 

Tuy nhiên điều trị thử chỉ được áp dụng cho các đối tượng sau:

-  Mới đau lần đầu hoặc nhiều lần với tính chất tương ứng của HCTNDD-TQ

-  Tuổi <50.

-  Không phát hiện thấy các triệu chứmg thực thể như thiếu máu, gày sút, hạch ngoại biên, các khối u ổ bụng...

Tuy cách chẩn đoán này không thật sự đảm bảo độ chính xác nhưng vẫn nên áp dụng rộng rãi vì giá trị thực tiễn của nó.

 

2. Nội soi dạ dày-tá tràng hoặc chụp Xquang

- Chỉ định :

+ Tuổi >50

+ Đau tái phát hoặc không hết dù đang điều trị bằng các thuốc chống bài tiết acid

+ Có các triệu chứng thực thể (gày sút, thiếu máu... )

+ Tính chất đau không điển hình của HCTNDD-TQ

- Mục đích :

+ Phát hiện các tổn thương ở thực quản của HCTNDD-TQ

+ Chẩn đoán xác định các thể HCTNDD-TQ không điển hình và có tổn thương nội soi

+ Quan trọng hơn cả là giúp chẩn đoán phân biệt với các bệnh lí khác ở dạ dày

3. Đo pH thực quản: chỉ định đo pH thực quản 24 giờ trong các trường hợp sau.

- Các trường hợp thất bại với phương pháp điều trị.

- Các trường hợp trước phẫu thuật.

- Những trường hợp không điển hình, cần xác định.

VI. Chẩn đoán phân biệt:

1. Khi triệu chứng HCTNDD-TQ không điển hình:

-  Khó thở, ho: cần phân biệt với hội chứng phổi tắc nghẽn. Đo chức năng hô hấp và điều trị thử bằng các thuốc giãn phế quản sẽ giúp cho chẩn đoán phân biệt. Nếu chức năng hô hấp không thấy thay đổi và các triệu chứng khó thở , ho không thuyên giảm, cần đo pH thực quản để xác định chẩn đoán HCTNDD-TQ

-  Đau ngực: cần làm điện tâm đồ với nghiệm pháp gắng sức và điều trị thử bằng các thuốc giãn vành để phân biệt

-  Các triệu chứng về tai mũi họng như: cảm giác dị vật ở mũi, thay đổi giọng nói, viêm họng mạn, loạn cảm họng...: cần khám tai mũi họng để loại trừ . Trong trường hợp khó, đo pH thực quản là cần thiết.

2. Các bệnh có triệu chứng giống HCTNDD-TQ:

-  Loét dạ dày-tá tràng thể không điển hình: triệu chứng đau rất giống HCTNDD-TQ. Nội soi xác định có loét dạ dày hoặc tá tràng.

-  Chứng khó tiêu không do loét: đầy tức thượng vị, chậm tiêu, nội soi dạ dày không có loét.

Thực tế, trong điều kiện nội soi chưa triển khai rộng rãi ở các tuyến cơ sở, vấn đề chẩn đoán phân biệt giữa các bệnh trên với bệnh HCTNDD-TQ nhiều khi không thật cần thiết vì thái độ xử trí và điều trị giống nhau. Vì vậy có thể đưa ra các cách giải quyết cho người bệnh lựa chọn, hoặc là điều trị thử, hoặc là gửi đến tuyến chuyên sâu để nội soi xác định.

VI. Điều trị:

1. Nội khoa

Do nguyên nhân trào ngược chưa xác định chính xác vì vậy việc điều trị tiệt căn chưa có. Việc điều trị chủ yếu là loại trừ yếu tố nguy cơ và giảm sự phơi nhiễm của thực quản với acid dạ dày

 

1.1. Chế độ sinh hoạt ăn uống, nghỉ ngơi

-  Kê cao vai và đầu khi nằm.

-  Thực hiện chế độ ăn và tập luyện để giảm trọng lượng đối với những người thưà cân (đánh giá bằng chỉ số BMI).

-  ăn nhẹ, đặc biệt vào buổi tối, tránh ăn quá nhiều

-  Chỉ nằm sau khi ăn 3giờ.

-  Bỏ thuốc lá, rượu, sô cô la, cà phê, các đồ uóng có nhiều ga

-  Không dùng thắt lưng hoặc cạp quần chật

-  Tránh lao động ơ các tư thế cúi nhiều, mang vác nặng

1.2. Điều trị bằng thuốc:

-  Thuốc ức chế bơm proton: omeprazole, lanzoprazole …là thuốc có hiệu quả nhất hiện nay.

Omeprazole 20mg/ lần x1-2lần/ ngày x 4 tuần.

Lansoprazole 30mg/ lần x1-2lần / ngày x 4 tuần.

Rabeprazole 20mg/ lần/ ngày x 4 tuần.

Esomeprazole 20mg - 40mg/ ngày x 4 tuần

Có thể kéo dài 8 tuần ở những bệnh nhân viêm thực quản nặng hoặc kém đáp ứng sau 4 tuần điều trị.

-  Thuốc làm lưu thông nhanh thức ăn qua dạ dày: thường có hiệu quả ở những bệnh nhân có triệu chứng nhẹ nhưng khi sử dụng kéo dài gây nhiều biến chứng nghiêm trọng nên hiện nay không dùng.

2. Điều trị ngoại khoa

Phẫu thuật giúp không chỉ phục hồi các khiếm khuyết về giải phẫu mà còn làm tăng cường trương lực cơ thắt thực quản.

- Chỉ định:

+  Điều trị nội khoa tích cực nhưng không có kết quả, đặc biệt ở bệnh nhân mong muốn được điều trị triệt để.

+  Nguyên nhân gây HCTNDD-TQ là do thoát vị nhiều

+  Thực quản Barret.

+  Các trường hợp có biểu hiện ngoài hệ tiêu hoá: trong trường hợp này cần cân nhắc. 

- Phương pháp mổ mở: có 4 loại:

+  Tạo nếp gấp toàn bộ. (phương pháp Nissen ).

+  Tạo nếp gấp mặt trước ( cục bộ ).

+  Tạo nếp gấp mặt sau

+  Trường hợp có đoạn thực quản dài ở bên phải của đáy dạ dày có thể tạo ra nếp gấp toàn bộ bọc quanh đoạn thực quản kéo dài đó.

-  Phẫu thuật qua nội soi ổ bụng (laparoscopic fundoplication): phẫu thuật tạo nếp gấp đáy dạ dày qua soi ổ bụng. Có tới 70 - 80% ca thành công và có thể ổn định được tới 25 năm sau.

Tài liệu tham khảo

1.  Agreus L, Svardsudd K, Talley NJ, et al. Natural history of gastroesophageal reflux disease and functional abdominal disorders: a population-based study. Am J Gastroenterol 2001;96:2905–14

2.  El-Serag HB, Sonnenberg A. Associations between different forms of gastro-oesophageal reflux disease. Gut 1997;41:594–9

3.  Isolauri J, Laippala P. Prevalence of symptoms suggestive of gastro-oesophageal reflux disease in an adult population. Ann Med 1995;27:67–70

4.  J Dent, H B El-Serag, M-A Wallander and S Johansson . Epidemiology of gastro-oesophageal reflux disease: a systematic review. Gut 2005;54:710-717 

5.  Johnson DA, Fennerty MB. Heartburn severity underestimates erosive esophagitis severity in elderly patients with gastroesophageal reflux disease. Gastroenterology 2004;126:660

 

 

Các bài mới đăng
.
                   Trang chủ        Diễn đàn        Tư vấn sức khỏe        Nghiên cứu khoa học        Gửi tài liệu của bạn        Bài viết của bạn        Giới thiệu       
 

 ©  Bản quyền thuộc yduocvn.com

Tài liệu trên website được sưu tầm từ nhiều nguồn khác nhau, ghi rõ nguồn từ yduocvn.com nếu phát hành lại thông tin từ website này
Thông tin trên website chỉ mang tính chất tham khảo và không thay thế được chỉ định trực tiếp của bác sỹ.
Xin chân thành cảm ơn các bạn ở khắp nơi đã gửi tài liệu cho chúng tôi.

Mọi ý kiến xin liên hệ: Nguyễn Tăng Hòa

Email: Nguyentanghoa@gmail.com hoặc điện thoại: 0944 549 668