Home | Giới thiệu | Diễn Đàn | Rao vặt | Thiết bị y tế
Đăng ký | Đăng nhập
ads
ads




Thăm dò ý kiến
Đánh giá của bạn về thông tin trên website
Phong phú
Bình thường
Cần bổ sung
Rất kém

Bạn đang xem Nội tiêu hóa
 trong   Nội khoa
2/5/2010 17:03:29
Ỉa chảy mãn tính
(Yduocvn.com) - ỉa chảy mãn tính là một tình trạng hay gặp và rất khó chẩn đoán nguyên nhân, vì có rất nhiều nguyên nhân gây ra ỉa chảy mãn tính.

đại cương định nghĩa

Người bình thường đi ngoài 1 – 2 lần, khối lượng phân từ 100 – 150 g/ngày, phân mền thành khuôn (chứa 60 – 85% nước) ỉa chảy là khi đi ngoài trên 2 lần/ ngày nếu là phân nhão, hoặc một lần nếu phân nước, khối lượng phân trên 200g/ngày(tính trung bình trên 3 ngày) lượng nước trong phân trên 85%. Thời gian ỉa chảy trên 3 – 4 tuần. Một số người còn đưa ra tiêu chuẩn: bệnh nhân ăn chế độ không có lactose trong nhiều ngày mà vẫn ỉa chảy, không giảm bớt mới đúng thực sự là ỉa chảy mãn tính.

Cần phải phân biệt với ỉa chảy giả: trong lòng phân lỏng lại có cục phân cứng, hoặc khi thăm trực tràng lại có cục phân cứng, gặp ở người táo bón, ở những người này táo bón và ỉa chảy xen kẽ nhau. Hậu môn không tự chủ hoặc khi đo áp lực hậu môn thấy ngưỡng kích thích giảm cũng phải nghĩ đến ỉa chảy giả. Hậu môn có tổn thương như viêm, khối u: phân có nhiều chất nhầy,đi ngoài nhiều lần. Những trường hợp ỉa chảy giả trên đây số lần đi ngoài nhiều lần nhưng khối lượng phân trong ngày vẫn bình thường, lượng phân mỗi lần ít.

Các nguyên nhân ỉa chảy giả:

- Táo bón: Trong phân lỏng có cục phân cứng.

 Thăm trực tràng thấy có phân cứng.

- Hậu môn không tự chủ: Hỏi bệnh.

 Đo áp lực hậu môn.

- Tổn thương thực thể hậu môn: Phân nhiều nhầy.

(viêm,u, …..) Đi ngoài nhiều lần.

 Thăm, soi trực tràng.

Sinh lý bệnh

Có thể chỉa ỉa chảy mạn tính thành 2 loại chính:

Kém hấp thu ( do thẩm thấu hoặc do rối loạn nhu động).

Tăng tiết.

- ỉa chảy do kém hấp thu: sẽ dẫn đến suy dinh dưỡng. Diện tích hấp thu của ruột bị thu nhỏ lại, thời gian vận chuyển ngắn hoặc nhanh, vận chuyển cơ học giảm, sự có mặt của các chất không được hấp thu trong lòng ruột là những nguyên nhân dẫn đến kém hấp thu.

- ỉa chảy do tăng tiết: Tăng sự bài tiết nước chủ động hoặc chủ động vào trong lòng ruột, khi ruột không đảm nhân chức năng hấp thu một cách bình thường sẽ dẫn đến ỉa chảy. Mỗi ngày có khoảng 2L nứơc đựơc đưa vào cơ thể qua đường ăn uống. Tuỵ, dạ dày, mật, tuyến nước bọt bài tiết vào ruột khoảng 7 -8 L nước nữa, phần lớn dích đó được tái hấp thu ở ruột non, chỉ còn lại khoảng 1,5L vượt qua van ruột cuối đổ vào đại tràng là 4 -5L/ ngày. khi lượng nứơc đến đại tràng nhiều, vượt quá khả năng hấp thu của nó, hoặc khi có rối loạn khả năng hấp thu nứơc của đại tràng sẽ dẫn đến ỉa chảy.

Lâm sàng:

Cần khám phân:phân có mỡ thể hiện bằng váng nổi ở trên, làm cho nghĩ đến ỉa mỡ do tiêu hoá hoặc hấp thu kém; các thức ăn chưa tiêu đặc biệt là rau, đậu, ngô,… nghĩ đến ỉa chảy do tăng nhu động. ỉa chảy ban đêm nghĩ đến nguyên nhân thực thể, dù thể trạng có bị ảnh hưởng hay không. cần khai thác đường, xơ vữa động mạch, tiền sử của việc điều trị tia xạ vùng tiểu khung, tiền sử của amylose, tiền sử nhiễm khuẩn đường tiêu hoá và những lần ỉa chảy không rõ nguyên nhân, sử dụng aspartam ở người đái đường nghiện hút ma tuý, truyền máu, nghiện rượu. Cũng cần khai thác tiền sử gia đình có người ỉa chảy, ung thư, … cần khai thác kỹ tính chất ỉa chảy: lúc bắt đầu, nhịp độ tái phát, ỉa chảy ban đêm, liên quan đến bữa ăn và thức ăn, đến streess, liên tục hay ngắt quãng, nếu xen kẽ bởi những đợt ỉa chảy bình thường, thường là rối loạn chức năng, các yếu tố làm giảm hoặc ngừng ỉa chảy, nhịn có ảnh hưởng hay không, nếu cần thì cho bênh nhân nhịn đói thử, bệnh nhân có đau bụng hay không, tính chất và đặc điểm của đau bụng, có đau quặn và mót rặn hay không.

Các bước chẩn đoán: lần lượt qua các bứơc sau:

Hỏi và khám lâm sàng để phân biệt ỉa chảy thực hay giả. Nghiêm pháp nhanh 48 giờ để phân biệt ỉa chảy kém hấp thu hay tăng tiết.

Xét nghiệm phân: - Khối lượng, (trên 200 g/ ngày là ỉa chảy)

-  Định lượng mỡ (trong 3 ngày liền) cho bệnh nhân ăn 70 – 100 g mỡ/ ngày. ỉa mỡ >7g/ ngày.

-  Soi tươi tìm ký sinh vật, hồng cầu, bạch cầu.

-  Nuôi cấy tìm vi khuẩn, nấm.

-  Tìm các chất nhuận tràng.

Nghiệm pháp rouge carmin uống 2 viên 0,5g: thời gian xuất hiện trong phân (TACS) là 26 giờ. Dưới 8 giờ: ỉa chảy tăng nhu động. Thời gian bài tiết toàn bộ(TETCS) là 46 giờ. Dưới 18 giờ là tăng nhu động.

 Các xét nghiệm chung:

Công thức máu, máu lắng, tỷ lệ prothrombin, điện giải đồ, urê máu, créatinine máu, protide máu.

Thăm dò ruột và tuỵ:

1. Thăm dò không xâm lấn:

Test thở: Dựa trên nguyên tắc các vi khuẩn trong ruột lên men thức ăn tạo thành nước. Khi uống chất làm nghiệm pháp, chất này sẽ tiếp xúc với vi khuẩn và sẽ tạo thành nước, phân tử nước này sẽ ngấm vào máu, vào phổi rồi đào thải ra ngoài. Dùng chất đánh dấu chất làm nghiệm pháp, có thể đo được chất đó trong khí thở ra. Với nghiệm pháp này có thể xác định khả năng tiêu hóa cũng như thời gian thức ăn đi qua dạ dày, đại tràng.

Test chịu đựng với lactose(khi không có điều kiện làm test thở)cũng như test thở với lactose H2, test này chứng minh thiếu lactose. Test thở với lactulose H­2 để đo thời gian vận chuyển của ruột non, vì chất này không hấp thu ở ruột non, khi vào đại tràng thì nó tạo thành H. Bình thường glucose hấp thu hoàn toàn và không tiếp xúc với vi khuẩn tạo dịch. Test Dxylose chứng minh sự rối loạn chung về hấp thu của niêm mạc ruột non. Test Schilling cũng vậy.

Định lượng élastase phân: ví dụ ỏ1 chymotrypsine trong phân, nghiệm pháp NBT PABA.

Nghiệm pháp sécrétine caeruléin: ít áp dụng, chỉ dùng khi các xét nghiệm khác không rõ, hoặc nghiên cứu khoa học.

Siêu âm tuỵ, ổ bụng, chụp CLVT ổ bụng, tuỵ.

X quang ruột, dạ dày.

2. Thăm dò xâm lấn:

Soi dạ dày ruột và sinh thiết: chẩn đoán teo nhung mao ruột(bệnh Sprue) nhuộm PAS (+): bệnh wipple, phát hiện xâm nhập lympho.

Chụp mật tuỵ ngược dòng(ERCP).

Một số xét nghiệm sinh hoá máu, nước tiểu:

Định lượng calicitomine: Ung thư tuỷ giáp trạng

Định lượng T4, TSH: Cường giáp

Định lượng 5 HIAA: U Carcinoide

Định lượng gastrine: Gastrinome, VIPome

Sơ đồ chẩn đoán:

 

  

Soi đại tràng - Các nghiệm pháp hấp thu  - Nghiệm pháp thở

X quang ruột non - Định lượng elastase phân với lactulose H2


 

Định lượng nội tiết tố - Soi dạ dày tá tràng và sinh thiết - X quang ruột non

 - Nghiệm pháp thở với glucose H2 - Định lượng nội

 -Nghiệm pháp thở với 13C glycocholate tiết tố

 - Tìm lỗ hổng thẩm thấu 

Nguyên nhân ỉa chảy

1. ỉa chảy do nhu động: lâm sàng dựa vào các triệu chứng: phân toàn nước, nhiều lần trong ngày, ngay sau khi ăn phân có cặn thức ăn nhất là rau. kèm theo là đau bụng, đôi khi ăn khớp với streess. Nhịn đói ỉa chảy giảm. Thể trạng không bị hoặc ít bị ảnh hưởng. Khối lượng phân thường nhiều. Thời gian vận chuyển phân nhanh, chủ yếu là của đại tràng, do đó giảm thơì gian tái hấp thu nước của đại tràng, dẫn đến ỉa chảy. Nguyên nhân có thể là tổn thương thực thể hoặc hội chứng ruột kích thích chẩn đoán loại trừ. Cơ thể ỉa chảy của hội chứng ruột kích thích là rối loạn nhu động và tổn thương nhận cảm của đại tràng trong đó đại tràng mất vai trò kìm hãm là quan trọng nhất.

Nguyên nhân ỉa chảy nhu động:

Cường tuyến giáp

Ung thư tuyến giáp và adémme tế bào C

Hội chứng carcinoide

ỉa chảy do tiêu hoá kém hoặc hấp thu kém:

phân có mỡ, thiếu máu do thiếu sắt(hồng cầu nhỏ) hoặc do thiếu acide folique và vitamine B12 (hồng cầu to) hoặc thiếu cả hai. Rối loạn đông máu do thiếu vitamine K1, hạ albumine máu. ỉa mỡ là do suy tuỵ ngoại hoặc do ruột non nhưng có trường hợp lượng mỡ phân trên 6g/ ngày ( nhưng không vượt quá 14g/ ngày)mà vẫn không phải là kém hấp thu, mặc dù vẫn có ỉa chảy. Kém tiêu hoá do thiếu acide mật hiếm gặp. Thiếu nguyên phát do tắc mật, dò mật, hoặc thiếu thứ phát do cắt ruột cuối. Sự phân ỉa mỡ do suy tuỵ ngoại và dò ruột rất khó. Nói chung nước trong phân của nguyên nhân do ruột thì nhiều hơn, lượng Na trong phân và tỷ lệ N hoà tan /N toàn phần đều tăng hơn. nếu cần, phải làm nghiệm pháp hấp thu với trioléin và oleic có đánh dấu I131, nếu nguyên nhân do tuỵ thì kém hấp thu với trioléine, nếu nguyên nhân do ruột thì kém hấp thu với cả hai.

Những nguyên nhân chính gây kém hấp thu do ruột

a) Teo nhung mao: Chẩn đoán

Bệnh Coeliaque Kháng thể chống gliadine và andomysium

(nhạy cảm với ghiten) 

 Chế độ ăn không gluten có kết quả tốt.

Bệnh sprue nhiệt đới: Đi du lịch, kháng sinh có kết quả tôt.

Thiếu globuline miễn dịch Định lượng globuline miễn dịch và miễn dịch

( thiếu IgA hoặc thiếu toàn  điện di.

bộ Ig)

Ký sinh vật: Lambliase:                

 Xét nghiệm phân và test ELISA.

Thiếu lactase                                  

Test thở với lactose, triệu chứng lâm sàng.

o hoạt tính của men trên các mảnh

 sinh thiết ruột  

 b) tổn thương lamina propria:

Bệnh wipple: Đại thực bào PAS +, phát hiện vi khuẩn bằng

 PCR

Bệnh chuỗi nặng ỏ hoặc Sinh thiếu ruột non : thấy xâm nhập lympho

lymphome địa trung hải:  (lymphome immunolymphoblastique) làm điện di

 protêin và điện di miễn dịch protein phát hiện

 chuỗi nặng ỏ . 

Lymphome ác tính: Xâm nhập lympho + transit ruột + phẫu thuật.

(khu trú, lan toả)

Viêm dạ day ruột xâm Sinh thiết ruột, dạ dày Histamine máu.

nhập bạch cầu ái toan:

Amylose tiêu hoá: Sinh thiết dạ dày, ruột nhuộm đỏ congo.

c) Bệnh Crohn:  Soi đại tràng và sinh thiết, transit ruột.

d) Chiếu tia: Tiền sử chiếu tia, sinh thiết đại tràng transit ruột.

đ) Cắt đoạn ruột: 

e) Nhiễm bẩn ruột: Test thở với glucose, kháng sinh.

Chẩn đoán tiêu hoá kém do tuỵ (Viêm tuỵ mạn, sỏi, u, xơ nang, tuỵ)

Siêu âm ổ bụng, siêu âm nội soi, chụp cắt lớp vi tính, làm BRCP v.v…. tuỵ có lắng đọng calci, ống tuỵ dãn, sỏi thận, u tuỵ, nghiệm pháp triolein, oleic, xét nghiệm men tuỵ v.v

Chẩn đoán tiêu hoá kém do ruột: Sau khi đã loại trừ nguyên nhân tiêu hoá kém do tuỵ, cần làm các xét nghiệm về khả năng hấp thụ:

Nghiệm pháp D. Xylose thăm dò ruột gần: uống 25g, định lượng

Dylose máu sau 2h: < 0,25 g/l (bệnh lý)

Xylose niệu sau 5h: < 5g/l ( bệnh lý).

Nghiệm pháp Schilling: thăm dò ruột cuối - Sau khi đã bão hoà B12 máu và tổ chức, cho bệnh nhân uống vitamine B12 đánh dấu: B12 đào thải qua nước tiểu dưới 7% lượng uống vào.

Nghiệm pháp thở với glucose: để chẩn đoán độ nhiễm bẩn của ruột ( độ nhạy 70%). Nghiệm pháp thở với lactose để chẩn đoán thiếu men lactose.

3. ỉa chảy thẩm thấu:

Cần hỏi tiền sử dùng thuốc, nếu không có thiền sử dùng thuốc, chẩn đoán dựa trên lỗ hổng thẩm thấu trong phân: áp lực thẩm thấu của phân thấp hơn 2 lần tổng số nồng độ K+ và Na+. Nên nhớ áp lực thẩm thấu của phân tăng rất nhanh sau khi phân ra ngoài, do đó cần phải phân tích phân ngay. Tốt nhất là tính lỗ hổng thẩm thấu dựa trên áp lực thẩm thấu lý thuyết của phân là 290mOsm/l tốt hơn dựa trên áp lực thẩm thấu đo được. Khi lỗ hổng thẩm thấu trên 50mOsm/l là bệnh lý. Thí dụ: nồng độ trong phân của Na+ là 44 mOsm/l, K+  là 46mOsm/l, lỗ hổng thẩm thấu phân của người đó là 290 – 2x ( 44 +46 ) =110 mOsm/l, ỉa chảy của người đó là ỉa chảy thẩm thấu, lỗ hổng thẩm thấu chứng tỏ có một chất có thẩm tính hoạt động trong phân. Các chất đó thường là hydrate carbone, hoặc ion hai hoá trị (Mg, SO4 …) sự có mặt của hydrate carbone có thể do kém hấp thu dissacharide như lactose, saccharose, thường gặp nhất là sucre alcool như mannitol, sorbitol. Trong trường hợp đó pH thường acide, ỉa chảy kèm theo chướng bụng. Sự có mặt của ion hoá trị 2 có liên quan đến sự hấp thu Mg có trong một số thuốc chống acide, một số sản phẩm thức ăn. Ion sulfate cũng gây ỉa chảy. Trong trường hợp này pH phân trung tính hoặc kiềm.

ỉa chảy thẩm thấu là do diện tích thẩm thấu bị giảm hoặc do các chất không có khả tái năng hấp thu được tống vào đại tràng, làm cho tái hấp thu nước của đại tràng giảm đi, nước giữ lại trong lòng ruột.

4. Iả chảy tăng bài tiết: Lượng nước trong lòng ruột nhiều vượt quá khả năng hấp thu: tăng bài tiết nước và ion hoá trị 1 bởi các tế bào vùng khe tuyến, đồng thời giảm sự hấp thu của nhung mao. áp lực thẩm thấu của phân vẫn bình thường chung quanh 300mOsm/l, không có lỗ hổng thẩm thấu, nhịn đói không làm giảm ỉa chảy ( trừ trường hợp dùng thuốc nhuận tràng) nghiệm pháp truyền dịch vào ruột sẽ khẳng định chẩn đoán.Khối lượng phân nhiều và toàn nước, thường trên 1L/ngày, kéo theo giảm Kali máu, toan chuyển hoá và suy thận chức năng.Iả chảy này có thể dẫn đến thể xuất tiết (Exadative) thể này phân có chất nhầy, máu.

 Nguyên nhân: chủ yếu nằm ở đại tràng, hay gặp ở người tâm thần, nếu do dùng thuốc nhuận tràng soi đại tràng thấy có chấm sắc tố (melanese) hoặc tìm thấy các chấy chuyển hoá Anthraquinone trong nước tiểu hoặc Phenolphtalein trong phân.

 Bệnh viêm đại tràng vi thể: Thâm nhiễm lympho vào lớp liêm mạc, lớp liêm mạc bất thường, viêm khe tuyến, xâm nhập tế bào viêm vào lớp laminapropnia. Đôí với viêm đại tràng Collagenne thấy các giải Collagennedwowis niêm mạc, nhìn đại thể vẫn bình thường. 17 trường hợp soi đại tràng bình thường nhưng làm sinh thiết lại phát hiện các tổng thương:Melanose, Crohn, viêm đại tràng vi thể, nhiễm khuẩn.

 

5. Iả chảy do bệnh ruột xuất tiết (Exudative) ỉa chảy kèm theo phù (kín đáo, từng vùng, hoặc tư thế hoặc phù toàn thân ). Đau bụng không điển hình, thường có liên quan đến nhiễm khuẩn như viêm phế quản, nhiễm trùng tai mũi họng …, đôi khi co giật do hạ calci máu, mất protein vào lòng ruột từ máu, từ tân quản và từ gian bào, dẫn đến hạ protein máu, albumine và globuline máu.thanh thải của antytrypsine qua phân tăng (người bình thường là 12ml/ngày )mặc dù loét liêm mạc ống tiêu hoá (loét dạ dày tá tràng, u ống tiêu hoá, các bệnh viêm ruột mạn …)và các tổn thương tái tạo tế bào niêm mạc ruột ( một số bệnh nhiễm trùng, bệnh Coeliaque, viêm đại tràng vi thể …)là những triệu chứng ban đầu giúp cho hướng tới chẩn đoán được dễ dàng, nhưng chẩn đoán được các bệnh xuất tiết do tắc bạch mạch thì ngược lại rất khó khăn. Mọi bệnh tắc bạch mạch dù nguyên nhân gì ( tăng áp lực trong buồng tim phải, và tĩnh mạch chủ trên, xơ gan, tăng áp lực tĩnh mạch cửa, khối u và viêm ở mạc treo) đều có thể dẫn đến bệnh ruột xuất tiết. Bệnh Waldmann hoặc dãn tân mạch tiên phát của ruột rất hiếm gặp. Cần nghĩ tới bệnh này khi từ tuổi trẻ em đã có phù cứng lan toả, không cân đối, trong đợt tiến triển thì phù toàn thân – sinh thiết ruột non cho phép những chẩn đoán dãn bạch mạch niêm mạc ruột, X. quang ruột non cho những hình ảnh không điển hình. Những bệnh không gây tổn thương niêm mạc bao gồm những bệnh làm cản trở tuần hoàn tân mạch chủ yếu là các khối u. Chụp cắt lớp vi tính trung thất, ổ bụng, hoặc siêu âm ổ bụng, chụp bạch mạch có thể giúp cho chẩn đoán.

6. ỉa chảy tăng khối lượng: chỉ gặp trong hội chứng Zollinger Ellison, nguyên nhân là u tuỵ tiết gastrine( lành tính hay ác tính, đơn độc) hoặc trong khung cảnh đau nội tiết. Bệnh đặc trưng bởi loét dạ dày, tá tràng, ỉa chảy(nhiều, toàn nước, có thể dẫn đến mất nước) tăng tiết acide dạ dày mà secretine cũng không kìm hãm đựơc.

II. Tóm tắt nguyên nhân ỉa chảy mạn tính

Thường gặp

ít gặp

Hiếm gặp

Các viêm ruột mạn tính

HIV phối hợp ỉa chảy

Wipple.

Hội chứng ruột kích thích

Sprue

Lymphom ruột

 Nhiễm khuẩn

Lỗ dò

 

Ung thư

Thuốc nhuận tràng(lạm dụng )

 

Không thích ứng lactose

Viêm ruột giả mạc

 

Suy tuỵ ngoại

Bệnh do NSAID

 

 

ỉa chảy mật

 

 

Hội chứng ruột ngắn

 

 

Các bệnh đặc biệt.

 

1/ Sprue bản xứ: Tiêu hoá kém, ỉa mỡ, đau bụng không rõ ràng, chướng bụng và có cảm giác đầy bụng. Những triệu chứng sớm đầu tiên gặp ở trẻ em: chậm lớn, chậm tăng cân, về sau xuất hiện thiếu máu do thiếu sắt, những hậu quả của tiêu hoá kém như loãng xương, viêm đa giây thân kinh, thiếu vitamine, rụng tóc, v.v…. tiêu chuẩn vàng để chuẩn đoán là sinh thiết tá tràng tìm teo nhung mao, xâm nhập lympho vào niêm mạc. Trong trường hợp nghi ngờ, cho bệnh nhân ăn chế độ có gliadine, mỗi ngày 30g trong 2 tháng rồi làm sinh thiết lại. Cần làm nghiệm pháp Dxylose, nghiệm pháp thở với lactose H2 thấy rối loạn, do hậu quả của teo nhung mao ruột. Các xét nghiệm huyết thanh như tìm kháng thể anti endomysial và anti gliadine có độ nhạy cảm và độ đặc hiệu cao. Nừu để bệnh kéo dài, hoặc điều trị kém có thể dẫn đến lymphome ruột ác tính. Bệnh nhân cần ăn kiêng không có glutène, chế độ ăn này chỉ trong ít tuần lễ cũng làm giảm rõ rệt các triệu chứng.

2/ Bệnh Wipple: Sụt cân, ỉa chảy, đau khớp, sốt, đau bụng, ngoài ra còn một số triệu chứng không đặc hiệu khác: ho kéo dài, nhức đầu, hạ huyết áp, hạch to, hội chứng thần kinh, đau cơ, viêm nội tâm mạc, chứng tỏ nó là một bệnh hệ thống.

Về huyết học:tốc độ máu lắng tăng, bạch cầu tăng, thiếu máu do thiếu sắt, các xét nghiệm hấp thu chứng tỏ có tiêu hoá kém, soi tá tràng để thấy các nếp nhăn và làm sinh thiết, nhuộm PAS (+). Qua kính hiển vi điện tử thấy vi khuẩn hình que ( Trophéryma Whippelié) vi khuẩn này nằm trong bạch cầu đại thực bào, và có thể phát hiện bằng kỹ thuật PCR, làm cho chẩn đoán càng chắc chắn. Sự rối loạn điều hoà miễn dịch được chấp nhận, nhưng không biết rối loạn miễn dịch đó là do nguyên nhân hay hậu quả của bện. Cần phải khám xét nội tâm mạc, ngoại tâm mạc và hệ thống thần kinh trung ương. Điều trị bằng kháng sinh ngày càng có kết quả: amoxicilline tiêm tĩnh mạch trong 2 tuần, sau đó dùng cotrimoxazol forte ( 2 viên/ ngày ) điều trị trong 1 – 2 năm.

3. Dị ứng không chịu thức ăn:

Tần số mắc bệnh khác nhau tuỳ từng tác giả, trẻ em thường bị dị ứng với sữa bò, protein thịt gà, người lớn thường bị dị ứng với gia vị, hạt dẻ, hoa quả biển. Triệu chứng: ỉa chảy, đau bụng dữ dội, nôn, buồn nôn. Các triệu chứng ngoại ruột như mề đay, ngứa, phù. Chẩn đoán bằng cách tìm IgE trong huyết thanh có test ELISA. Test trong da rất ít nhạy cảm. cần chú ý đề phòng những thức ăn đựơc chứng minh là gây dị ứng.

Không chịu thức ăn hay gặp hơn. Không chịu thức ăn là không tiêu hoá một phân hay hoàn toàn thức ăn đưa vào. Ví dụ: Không chịu thức ăn với Lactose, sorbitol … khi hydrate cacbone không được tiêu hoá chảy vào đại tràng sẽ gây quá tải thẩm thấu và gây ỉa chảy. iả chảy do viêm tuỵ mạn tính: ít gặp, do men tuỵ không tiết đầy đủ vào ruột, thức ăn không tiêu hoá chảy vào đại tràng gây nên ỉa chảy thẩm thấu. Tình trạng toàn thân giống Mallas rất rõ, thiếu calo dinh dưỡng rõ, thiếu vitamine và các vi yếu tố. Tìm elastase trong phân có thể chẩn đoán viêm tuỵ vừa và nặng, nhưng với viêm tuỵ nhẹ chẩn đoán rất khó.

4.  ỉa chảy nội tiết: 

Bao giờ cũng là ỉa chảy bài tiết, nhưng cơ thể kết hợp với ỉa chảy thẩm thấu. Trong cường giáp trạng chỉ cần khai thác tiền sử và phát hiện triệu chứng lâm sàng ( bướu cổ …) đã có thể xác định chẩn đoán. Với ỉa chảy nội tiết khác, phải làm các xét nghiệm sinh hoá tìm các chất nội tiết tố. Vì bệnh này hiếm gặp nên thường hay chẩn đoán nhầm là bệnh tiêu hoá đầu tiên, về sau mới được chẩn đoán là bệnh nội tiết. Cơn bừng mặt kèm theo tăng huyết áplà triệu chứng điển hình của hội chứng carcinoide, trong thực tế thường chỉ gặp cơn bừng mặt không có tăng huyết áp. Trong gastrinome thì ỉa chảy là triệu chứng phụ, triệu chứng chính là loét không điển hình ở phần cao ống tiêu hoá. Cơ chể ỉa chảy của gastrinome là dịch tá tràng nhiều và tăng acide, dẫn đến ức chế hoạt động của men tuỵ, một phần là do tiết nhiều nước của ruột, một phần nữa là do nhu động ruột bị thay đổi. Để chẩn đoán ung thư tế bào C của tuyến giáp cần làm xét nghiệm BSG hoặc CEA. Đối với VIPoma thì cần định lượng kali và chlore trong huyết tương ( giảm ) định lượng VIP.

5.  Lạm dụng thuốc nhuận tràng

ở các nước Âu Châu hay gặp, ở Việt Nam ít gặp.Bệnh nhân thường không khai. Cần tìm các chất chuyển hoá của chúng trong nước tiểu, phần cơ pH kiềm, nếu vùng phenolphtalein thì phân có phản ứng màu đỏ, tím,nếu dùng các chất có muối thì làm phản ứng nhanh tìm lỗ hổng thẩm thấu. Soi đại tràng làm sinh thiết phát hịên các mảnh sắc tố mà nhìn đại thể có khi không thấy.

6. Ruột của những người dùng NSAID

Cả đại tràng và ruột non đều bị tổn thương nếu dùng kéo dài ( liên tục hoặc ngắt quãng). Bệnh làm tổn thương loét dạ dày tá tràng mà ai cũng biết, người ta còn nhận thấy trong vòng 12 giờ sau khi uống thuốc, thẩm tính của thành ruột tăng lên, để cho peotein thoát qua vào lòng ruột, dẫn đến kém hấp thu, ỉa mỡ và mất máu. Bất cứ thuốc NSAID nào cũng gây hậu quả đó. Cơ chế của những hiện tượng đó chưa được rõ. Nhưng có giả thiết cho rằng đậm độ của thuốc phân bố không đều, nếu cho dùng prostaglandine đồng thời với NSAID thì có tác dụng bảo vệ. Do đó dẫn đến việc dùng các thuốc gọi là prodrug ( Sulindac, ….) chất này được chuyển hoá ở gan thành chất chống viêm. Một giả thiết khác là vi khuẩn xâm nhập vào thành ruột ở nơi có tổn thương. Người ta khuyên dùng xen kẽ promg và NSAID.

7.  ỉa chảy mật

Do mất acide mật. Có ba cơ chế:

Type I: Hấp thu muối mật ở ruột cuối, cắt ruột cuối.

Type II: Bất thường ở ruột cuối bẩm sinh hoặc mắc phải, ảnh hưởng đến vận chuyển muối mật.

Type III: Do hậu quả cắt túi mật, cắt giây thần kinh phế vị toàn bộ.

Hởu quả của của cả 3 loại đó là muối mật vào đại tràng quá nhiều, ở đây độc tính của nó được tăng lên và gây ra ỉa chảy tăng bài tiết. Để bù lại lượng muối mật bị mất ở đại tràng, gan phải tăng bài tiết muối mật. Muối mật bị mất vượt quá khả năng tổng hợp của gan, do đó mỡ trong thức ăn không được phân huỷ và không được hấp thu, cuối cùng dẫn đến ỉa chảy mỡ. Để phát hiện muối mật tống vào đại tràng cần làm nghiệm pháp thở với C13 glycocholate, hoặc test đồng vị phóng xạ với ScHCAT. Người ta cũng có thể dùng cholestyramine điều trị thử, để chẩn đoán ỉa chảy mật.

8.  Sự di chuyển lại chỗ của vi khuẩn trong ruôt

Bình thường thức ăn đi từ dạ dày xuống ruột non rồi vào đại trang qua van hồi manh tràng, nhưng khi có những thay đổi như: phẫu thuật, lỗ dò khối u, hoặc viêm ruột mạn tính, nối dạ dày ruột , quai tịt … sẽ làm cho vi khuẩn di chuyển thay đổi vị trí cư trú vào ruột non, gây lên rối loạn quá trình lên men ở ruột non và dẫn đến iả chảy. Khi quá trình vận chuyển của ruột non bị chậm lại, sự thanh thải vi khuẩn ra khỏi ruột non cũng bị chậm lại, tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển mạnh hơn, vi khuẩn từ đại tràng vào ruột non cũng tăng nên và gây ra ỉa chảy. Để chẩn đoán cần làm test thở với glucose H2 và với C13 glycocholate, người ta thấy nồng độ H2/C13 tăng lên rất sớm. Nội soi đại tràng và Xquang cũng giúp chẩn đoán rối loạn vận chuyển này. Điều trị bằng Doxycycline hoặc Ciprofloxacine trong 7 – 10 ngày hoặc lâu hơn. Điều trị nhiều đợt.

9.  HIV và ỉa chảy

Là loại ỉa chảy bài tiết với nhiễm nhiều loại vi khuẩn. Có thể ỉa chảy sảy ra lâu trước khi chẩn đoán HIV. Những vi khuẩn phối hợp trong HIV thường là:

CD4 > 200/ỡl: Salmonella, Shigella, Yersinia, Campylobacter,

 Clostridium difficile, Rotavirus, HIV, Heper virus.

CD4 < 100/ỡl: Mycobacterium Komplex, Cytomegalovirus,

 Cryptosporidium, Microsporidium.

Để phát hiện, cấy phân là đủ, khi cần thiết mới cấy máu. Có thể soi dạ dày, đại tràng quan sát đại thể và lấy bệnh phẩm.

Điều trị:

Mycobacterium avium: Arithromycine, ethambutol.

Cytomegalovirus  Ganciclovir

Microsptosporidium  Albendazol

Cryptos poridium  Paromomycine

10.   Những bệnh viêm ruột mạn tính:

ỉa chảy do viêm ruột mạn tính có nhiều nguyên nhân. Niêm mạc đại tràng bị viêm (Crohn, viêm loét đại trực tràng chảy máu …) sẽ tiết dịch rỉ viêm, đồng thời gây rối loạn hấp thu qưa thành ruột, như vậy ỉa chảy ở đây là ỉa chảy bài tiết. ở người mà ruột non có tham gia vào quá trình viêm thì đầu tiên là gây rối loạn hấp thu gây ỉa chảy thẩm thấu. Một trường hợp đặc biệt là ruột cuối bị viêm sẽ không hấp thu được acide mật sẽ gây ỉa chảy mật. Thêm nữa sự di chuyển lạc chỗ của vi khuẩn vào ruột non, hội chứng ruột ngắn, sự rối loạn chức năng hậu môn trực tràng có thể gây ra ỉa chảy, ỉa chảy này là ỉa chảy giả hiệu ( đi nhiều lần trong ngày, mỗi lần một ít, khối lượng phân < 200g ).

Cần phải cấy phân tìm vi khuẩn, nhất là Clostridium difficile, loại vi khuẩn hay gây viêm ruột giả mạc.

11.   Viêm đại tràng vi thể:

Trong phạm vi những bệnh viêm ruột mạn tính, viêm đại tràng vi thể gồm 2 nhóm:

-  Viêm đại tràng collagene

-  Viêm đại tràng lympho.

Chưa rõ có phải chúng là biểu hiện khác nhaucủa một bệnh hay không. Nguyên nhân của bệnh chưa rõ, người ta cho rằng đó là phản ứng miễn dịch bệnh lý chống lại kháng nguyên trong lòng ruột. Về mặt lâm sàng, ỉa chảy mạn tính và ỉa chảy nước là triệu chứng chủ yếu. Soi đại tràng không thấy tổn thương gì, nhưng làm sinh thiết thấy có lớp collagen dày 10 ỡm nằm ở cận niêm mạc ( viêm đại tràng lympho). Điều trị bằng corticoide, 5ASA, métronidazol, cholestyramine, octreotide.

12.   Ung thư

Triệu chứng ỉa máu mũi hoặc ỉa máu, ỉa mũi riêng biệt, đôi khi khối lượng phân đến 2l/ngày, dẫn đến rối loạn nước điện giải và cân bằng kiềm toan máu. Đôi khi có ỉa chảy bột phát, khi khôi u đã nan rộng ra ngoài thành ruột. Có khi bị tắt ruột do phân không vượt qua được chỗ hẹp do u gây nên, nước không được hấp thu và chảy qua chỗ hẹp, cuối cùng dẫn đến ỉa chảy và táo bón xen kẽ.

Trường hợp hiếm gặp hơn đó là u lympho. Triệu chứng là ỉa chảy bài tiết và kém hấp thu. Sự rối loạn hấp thu nước tuỳ theo mức độ lan rộng thâm nhiễm trong thành ruột. Để chẩn đoán cần nội soi và sinh thiết.

13.  Hôi chứng ruột kích thích:

Rất hay gặp. Nó còn được coi là một rối loạn chức năng với những thay đổi về phân và đại tiện. Không tìm thấy một tổn thương thực thể nào qua nội soi, sinh thiết và các xét nghiệm sinh vật khác. Có thể chia bệnh nhân thành nhiều nhóm tuỳ theo các triệu chứng: đau bụng, táo bón, ỉa chảy. ở đây có sự rối loạn vận động của ruột non và đại tràng. Các công trình nghiên cứu riêng rẽ đã chứng mính tính nhạy cảm của trực tràng đối với sự căng dãn trực tràng đựơc tăng lên và sức chịu đựng của đại tràng đối với muối mật cũng tăng lên. Điều trị bằng thuốc an thần và cholestyramine thấy có kết quả. Cần nhớ rằng chẩn đoán hội chứng ruột kích thích là chẩn đoán loại trừ, phải làm đầy đủ ác xét nghiệm để tránh nhầm lẫn với bệnh ác tính, với bệnh có tổn thương thực thể.

 

 

Các bài mới đăng
.
                   Trang chủ        Diễn đàn        Tư vấn sức khỏe        Nghiên cứu khoa học        Gửi tài liệu của bạn        Bài viết của bạn        Giới thiệu       
 

 

©  Bản quyền thuộc yduocvn.com

Tài liệu trên website được sưu tầm từ nhiều nguồn khác nhau, ghi rõ nguồn từ yduocvn.com nếu phát hành lại thông tin từ website này
Thông tin trên website chỉ mang tính chất tham khảo và không thay thế được chỉ định trực tiếp của bác sỹ.
Xin chân thành cảm ơn các bạn ở khắp nơi đã gửi tài liệu cho chúng tôi.

  New Page 1