Home | Giới thiệu | Diễn Đàn | Rao vặt | Thiết bị y tế
Đăng ký | Đăng nhập
ads
ads




Thăm dò ý kiến
Đánh giá của bạn về thông tin trên website
Phong phú
Bình thường
Cần bổ sung
Rất kém

Bạn đang xem Thận tiết niệu
 trong   Nội khoa
30/4/2010 19:53:12
Điều trị thận hư
(Yduocvn.com) - Tên gọi khác : Bệnh thận hư

Điều trị - Biến chứng - Cách điều trị - Phòng ngừa than hu

Định nghĩa

Hội chứng thận hư là tập hợp những dấu hiệu và triệu chứng gồm: nước tiểu có protein (trên 3.5 grams/ngày), giảm protein trong máu, tăng cholesterol máu và phù(edema). Nước tiểu còn có chứa mỡ có thể thấy được dưới kính hiển vi.

Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ

Có nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra hội chứng thận hư, làm tổ thương thận, đặc biệt là tốn thương màng đáy cầu thận. Là nguyên nhân bất thường làm xuất hiện protein trong nước tiểu.

Nguyên nhân thường gặp nhất ở trẻ em là bệnh cầu thận với sang thương tối thiểu, còn ở người lớn nguyên nhân thường gặp là viêm vi cầu thận màng(sang thương màng).

Hội chứng thận hư có thể xảy ra sau khi nhiễm trùng, do thuốc, nhiễm độc thai nghén, rối loạn do di truyền, bệnh tự miễn, bệnh hệ thống như tiểu đượng, lupus ban đỏ hệ thống, đa u tuỷ, và thoái hoá dạng bột. Hôội chứng thận hư có thể kèm theo suy thận bao gồm: viêm vi cầu thâận, xơ hoá cầu thận khu trú và từng vùng.

Hội chứng thận hư có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi. Ở trẻ em, hội chứng thận hư thường xảy ra ở tuổi từ 2-6 tuổi. Đàn ông ít bị hơn phụ nữ.

Điều trị

Mục tiêu điều trị là nhằm giảm triệu chứng, ngừa biến chứng và kéo dài thời gian lui bệnh, tlàm chậm quá trình tổn thương thận. Mục tiêu là đem lại cuoộc sống tốt hơn cho người bệnh.

Thuốc Corticosteroid, ức chế miễn dịch, hạ áp và lợi tiểu có thể giúp kiểm soát triệu chứng.Kháng sinh cần thiết để kiểm soát nhiễm trùng. Thuốc ức chế men chuyển làm giảm đáng kể lượng protein trong nước tiểu và vì vậy nó thường được chỉ định trong điều trị hội chứng thận hư.
Nếu có cao huyết áp, thì cần phải điều trị một cách nghiêm túc. Việc điều trị cholesterol và triglyceride trong máu cao cũng thường được khuyến cáo để giảm nguy cơ xơ vữa động mạch. Chế độ ăn hạn chế cholesterol và mở bão hoà cũng mang lại lợi ích , vì sự tăng này dường như là do sự sản xuất quá mức của gan hơn là do cung cấp quá mức. Một số thuốc làm giảm cholesterol và triglycerides có thể được khuyên dùng.

Chế độ ăn nhiều protein vẫn chưa có cơ sở khoa học trong điều trị hội chứng thận hư. Ở nhiều bệnh nhân, giảm lượng protein ăn vào sẽ giảm được lượng protein xuất hiện trong nước tiểu. Trong nhiều trường hợp , ăn vừa phải protein (1g protein/ kg cân nặng / ngày) thường được khuyến cáo. Hạn chế muối nghiêm ngặt giúp kiểm soát triệu chứng phù. Vitamin D có thể cần thiết bổ sung nếu hội chứng thận hư mãn tính và không đáp ứng với điều trị.

Tiên lượng

Kết quả rất thay đổi; hội chứng thận hư có thể là cấp tính và diễn tiến trong thời gian ngắn, hay mãn tính và không đáp ứng với điều trị. Nguyên nhân và biến chứng của bệnh cũng ảnh hưởng đến kết quả điều trị.

Biến chứng

Xơ vữa động mạch và liên quan đến bệnh lý tim mạch.

Thuyên tắc tĩnh mạch thận.

Suy thân cấp

Suy thận mãn

Nhiễm trùng, gồm phế cầu trung

Suy dinh dưỡng

Quá tải dịch, suy tim sung huyết, phù phổi

Khi nào cần phải gọi cho nhân viên y tế ?

Bạn hãy gọi cho nhân viên y tế biết (bác sĩ) nếu bạn có triệu chứng của hội chứng thận hư.

Bạn cũng hãy gọi báo cho bác sĩ biết nếu hội chứng thận hư của bạn không thuyên giảm, còn dây dưa, hay có những triệu chứng mới xuất hiện như : nhức đầu, sốt, viêm đỏ da, ho, tiểu khó, tiểu ít đi.

Bạn hãy đến ngay phòng cấp cứu hoặc gọi xe cấp cứu tại địa phương bạn (Tp HCM bạn gọi số 115) nếu bị co giật.

Phòng ngừa

Điều trị nguyên nhân gây ra là biên pháp phòng ngừa hội chứng thận hư.

Triệu chứng

Phù : toàn thân, quanh mắt, chân, đặc biệt là bàn chân và mắt cá chân, bụng căng phù, phù mặt
Tiểu ít, nước tiểu có bọt

Tăng cân do ứ nước 
Chán ăn
Cao huyết áp

Dấu hiệu và xét nghiệm

Khám thực thể có thể phát hiện một số triệu chứng. Một số triệu chứng và dấu hiệu bệnh nguyên nhân có thể phát hiện khi khám.

Phân tích nước tiểu có thể phát hiện một lượng lớn protein trong nước tiểu. Thường cũng có thể có mở trong nước tiểu .

Xét nghiệm tìm nguyên nhân gồm

· Xét nghiệm dung nạp glucose

· Kháng thể kháng nhân

· Yếu tố thấp

· Đông lạnh globulin

· Xét nghiệm tìm bổ thể

· Kháng thể viêm gan B và C

· Huyết thanh chẩn đoán giang mai (VDRL)

· Điện di protein trong huyết thanh

· Sinh thiết thận

Bệnh này có thể có những kết quả xét nghiệm thay đổi:

· Trụ niệu

· Triglyceride

· Điện di protein

· Sắt huyết thanh 

· Chosterol

· Albumin

Nhiễm trùng đường niệu ở người lớn (Phần 1) Ðường tiết niệu là gì?

Ðường tiết niệu là hệ thống bao gồm thận, niệu quản, bàng quang và niệu đạo. Trong đó, đóng vai trò then chốt là 2 quả thận, đó là 2 cơ quan màu nâu hơi đỏ nằm bên dưới các xương sườn hướng vào giữa lưng. Thận lọc máu để thải các chất không cần thiết dưới dạng nước tiểu, duy trì ổn định sự cân bằng giữa muối và các chất khác trong máu đồng thời tạo ra một hormone hỗ trợ cho sự tạo thành hồng cầu. Niệu quản là những ống hẹp dẫn nước tiểu từ thận đến bàng quang - một khoang hình tam giác ở hố chậu. Nước tiểu được chứa trong bàng quang và đưa ra ngoài qua niệu đạo.

Trung bình một người lớn thải khoảng 1,5l nước tiểu một ngày. Lượng nước tiểu thay đổi phụ thuộc vào lượng nước và thức ăn một người tiêu thụ. Thể tích nước tiểu tạo thành vào ban đêm bằng một nửa vào ban ngày.

Tác hại của nhiễm trùng đường niệu

Nhiễm trùng đường niệu là một vấn đề sức khỏe quan trọng ảnh hưởng đến hàng triệu người mỗi năm.

Sự nhiễm trùng đường niệu khá phổ biến chỉ đứng sau nhiễm trùng đường hô hấp. Hàng năm, nhiễm trùng đường niệu là nguyên nhân thăm khám của khoảng 8 triệu bác sĩ.

Ðặc biệt, phụ nữ dễ bị nhiễm trùng đường niệu hơn do những lí do vẫn chưa được biết rõ. Cứ 5 phụ nữ thì có một người bị nhiễm trùng đường niệu trong suốt thời gian sống.

Các nguyên nhân gây nhiễm trùng đường niệu

Nước tiểu bình thường vô trùng. Nó chứa dịch, muối và các chất thải nhưng nó không chứa vi khuẩn, virus và nấm. Nhiễm trùng xảy ra khi vi sinh vật, thường là vi khuẩn từ đường tiêu hóa, bám vào lỗ mở của niệu đạo và bắt đầu nhân lên. Hầu hết các nhiễm trùng đều khởi phát từ 1 loại vi khuẩn là Escherichia coli (E. coli) bình thường sống trong trực tràng.

Trong hầu hết trường hợp, vi khuẩn bắt đầu nhân lên đầu tiên trong niệu đạo. Nhiễm trùng chỉ giới hạn ở niệu đạo gọi là nhiễm trùng niệu đạo. Từ đây, vi khuẩn thường xâm nhập vào bàng quang gây nhiễm trùng bàng quang ( viêm bàng quang). Nếu không được điều trị ngay, vi khuẩn có thể lên niệu quản gây nhiễm trùng thận (viêm đài bể thận).

Các vi khuẩn Chlamydia và Mycoplasma cũng có thể gây nhiễm trùng niệu ở cả nam và nữ giới nhưng chúng có khuynh hướng tự giới hạn ở niệu đạo và hệ sinh dục. Không giống E. coli, Chlamydia và Mycoplasma có thể lây nhiễm qua giao hợp do đó đòi hỏi điều trị đồng thời cả 2 người.

Hệ thống tiết niệu có cấu trúc giúp ngăn ngừa nhiễm trùng. Niệu quản và bàng quang thường ngăn không cho nước tiểu chảy ngược về thận và dòng nước tiểu từ bàng quang sẽ làm trôi vi khuẩn ra khỏi cơ thể. Ở nam giới, tuyến tiền liệt tạo ra các chất tiết làm chậm sự phát triển của vi khuẩn. Ngoài ra, ở cả 2 giới, hàng rào miễn dịch cũng giúp ngăn chặn nhiễm trùng. Tuy vậy, nhiễm trùng vẫn có thể xảy ra bất kể những sự bảo vệ trên.

Những đối tượng nguy cơ

Một số người dễ bị nhiễm trùng đường niệu hơn những người khác. Bất cứ một khuyết tật nào của đường tiết niệu ngăn cản dòng chảy của nước tiểu ( ví dụ sỏi thận) cũng có thể gây nhiễm trùng. Tuyến tiền liệt lớn có thể làm chậm dòng chảy của nước tiểu do đó cũng làm tăng nguy cơ nhiễm trùng.

Nguồn nhiễm trùng thông thường là ống thông tiểu hoặc những ống được đặt vào bàng quang. Những người không có khả năng tiểu tiện do bất tỉnh hoặc bệnh nặng thường được đặt ống thông tiểu trong một thời gian dài. Một số người, đặc biệt là người già hoặc những người bị rối loạn thần kinh nặng mất khả năng điều khiển quá trình tiểu tiện có thể cần ống thông tiểu suốt đời. Vi khuẩn trong ống thông tiểu có thể gây nhiễm trùng bàng quang, do đó nhân viên bệnh viện phải đặc biệt quan tâm giữ cho ống thông tiểu vô trùng và rút ra càng sớm càng tốt.

Những người bị tiểu đường có nguy cơ nhiễm trùng niệu cao hơn bởi những thay đổi của hệ thống miễn dịch. Bất kỳ rối loạn nào gây suy giảm hệ thống miễn dịch cũng sẽ làm gia tăng nguy cơ nhiễm trùng đường niệu.

Nhiễm trùng đường niệu có thể xảy ra ở trẻ em bị khuyết tật bẩm sinh ở đường tiết niệu, những khuyết tật này đôi khi phải cần đến sự can thiệp của phẫu thuật. Nhiễm trùng niệu hiếm khi xảy ra ở trẻ em nam và nam thanh niên. Ở phụ nữ, tỉ lệ nhiễm trùng niệu thường gia tăng theo tuổi.

Các nhà nghiên cứu vẫn chưa giải thích chắc chắn vì sao phụ nữ dễ nhiễm trùng niệu hơn nam giới. Một lý do có thể là niệu đạo của nữ ngắn hơn nên vi khuẩn dễ xâm nhập vào bàng quang hơn. Bên cạnh đó, lỗ mở niệu đạo ở phụ nữ cũng gần nguồn vi khuẩn từ hậu môn và âm đạo hơn. Với rất nhiều phụ nữ, sự giao hợp có vẻ như khởi đầu cho sự nhiễm trùng mặc dù nguyên nhân của mối liên hệ này vẫn chưa được biết rõ.

Theo nhiều tài liệu, những phụ nữ dùng màng tránh thai dễ nhiễm trùng niệu hơn dùng các phương pháp tránh thai khác. Gần đây, các nhà nghiên cứu phát hiện rằng nếu người đàn ông dùng bao cao su chứa bột diệt tinh trùng khi giao hợp thì người phụ nữ có khuynh hướng gia tăng sự phát triển của E. coli trong âm đạo.

Các vấn đề về sự tái nhiễm.

Nhiều phụ nữ bị nhiễm trùng đường tiểu thường xuyên. Gần 20% phụ nữ nhiễm trùng đường niệu  bị tái nhiễm 1 lần nữa, và 30% những phụ nữ này sẽ lại bị lần tiếp theo, trong số đó 80% sẽ tiếp tục tái nhiễm nhiều lần sau nữa.

Thông thường lần nhiễm trùng sau gây ra bởi một dòng hoặc một loại vi khuẩn khác với lần nhiễm trùng trước đó, điều này có nghĩa là những lần nhiễm trùng hoàn toàn riêng rẽ với nhau.  (Ngay cả khi rất nhiều nhiễm trùng có nguyên nhân từ E. coli nhưng vẫn có sự khác biệt nhỏ giữa những vi khuẩn này cho thấy sự nhiễm trùng riêng biệt).

Các nghiên cứu của Viện Sức Khoẻ Quốc Gia Mỹ (NIH) đưa ra một nguyên nhân gây tái nhiễm trùng đường niệu có thể là do khả năng tấn công các tế bào biểu mô đường niệu của vi khuẩn. Một tài liệu gần đây của NIH cũng cho thấy những phụ nữ bị tái nhiễm có thể có cùng một nhóm máu nào đó. Một số nhà khoa học xem xét rằng những phụ nữ có các nhóm máu này dễ bị nhiễm trùng đường niệu vì tế bào biểu mô âm đạo và niệu đạo cho phép vi khuẩn tấn công dễ dàng hơn. Các nghiên cứu trong tương lai sẽ tiếp tục nghiên cứu đưa ra bản chất mối liên hệ này cùng phương pháp nhận biết những phụ nữ có nguy cơ nhiễm trùng đường niệu cao

Nhiễm trùng đường niệu ở người lớn (Phần 2) 

Phương pháp điều trị nhiễm trùng đường niệu

Nhiễm trùng đường niệu được điều trị bằng thuốc kháng sinh. Việc chọn lựa thuốc và thời gian điều trị phụ thuộc vào tiền sử bệnh nhân và loại vi khuẩn gây nhiễm biết được qua xét nghiệm nước tiểu. Thử nghiệm độ nhạy cảm giúp ích rất nhiều cho bác sĩ trong việc chọn lựa loại thuốc tốt nhất. Loại thuốc thường được dùng nhất để điều trị nhiễm trùng đường tiểu đơn thuần là trimethoprim (Trimpex), trimothoprim/sulfamethoxazole (Bactrim, Septra, Cotrim), amoxicillin (Amoxil, Trimox, Wymox), nitrofurantoin (Macrodantin, Furadantin), và ampicillin.

Thông thường, nhiễm trùng đường niệu được điều trị trong vòng 1 đến 2 ngày nếu tình trạng nhiễm trùng không đi kèm với sự tắc nghẽn hay rối loạn thần kinh. Tuy nhiên, nhiều bác sĩ cho bệnh nhân uống kháng sinh trong vòng 1 đến hai tuần để đảm bảo rằng sự nhiễm trùng đã hoàn toàn hết. Phương pháp điều trị bằng một liều duy nhất không nên dùng cho một số nhóm bệnh nhân, ví dụ, những bệnh nhân điều trị trễ hay có dấu hiệu nhiễm trùng thận, bệnh nhân bị tiểu đường hay bất thường cấu trúc hoặc những người đàn ông bị nhiễm trùng tuyến tiền liệt. Thời gian điều trị cũng phải lâu hơn ở những bệnh nhân bị nhiễm Mycoplasma hay Chlamydia, trường hợp này thường được điều trị bằng tetracycline, trimethoprim/sulfamethoxazole (TMP/SMZ), hay doxycycline. Cần làm thêm một xét nghiệm nước tiểu nữa để chắc chắn là đường niệu đã hết nhiễm trùng chưa. Ðiều này rất quan trọng đối với toàn bộ tiến trình điều trị bởi vì những triệu chứng có thể biến mất trước khi tình trạng nhiễm trùng được đẩy lùi hoàn toàn.

Ở những bệnh nhân nặng bị nhiễm trùng thận có thể phải nằm viện đến khi họ có thể tự uống thuốc được. Nhiễm trùng thận thường phải điều trị bằng kháng sinh trong vài tuần. Một số nghiên cứu ở Ðại học Washington cho thấy liệu pháp 2 tuần bằng TMP/SMZ cũng hiệu quả như phương pháp điều trị trong 6 tuần với cùng loại thuốc ở những phụ nữ bị nhiễm trùng thận mà không liên quan đến tình trạng tắc nghẽn hay rối loạn hệ thần kinh. Trong những trường hợp này, nhiễm trùng thận ít khi gây hủy hoại thận hay làm hư thận trừ khi họ không điều trị.

Rất nhiều loại thuốc có tác dụng giảm đau trong nhiễm trùng đường niệu. Một cái đệm nóng hay tắm nước ấm cũng có tác dụng. Nhiều bác sĩ khuyên nên uống nhiều nước để giúp làm sạch đường niệu. Trong lúc này, tốt nhất là tránh dùng cà phê, rượu, và thức ăn nhiều gia vị. (Ðiều mà một người hút thuốc có thể làm để tốt cho bàng quang của họ là bỏ thuốc. Hút thuốc lá được biết là một nguyên nhân chính gây ung thư bàng quang).

Nhiễm trùng đường niệu ở thai phụ

Phụ nữ có thai không có nguy cơ nhiễm trùng đường niệu cao hơn những phụ nữ khác. Tuy nhiên, khi thai phụ bị nhiễm trùng đường niệu, vi khuẩn lại dễ xâm nhập thận hơn.

Theo một số báo cáo, khoảng 2 đến 4% phụ nhữ có thai bị nhiễm trùng đường niệu. Các nhà khoa học nghĩ rằng sự thay đổi về nội tiết và sự dịch chuyển vị trí một số cơ quan của hệ niệu trong thai kỳ tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn đi ngược niệu quản lên thận. Do đó, nhiều bác sĩ đề nghị nên xét nghiệm nước tiểu định kỳ.

Những triệu chứng của nhiễm trùng đường niệu.

Không phải tất cả mọi người bị nhiễm trùng đường niệu đều có triệu chứng, nhưng hầu hết mọi người đều có ít nhất một vài biểu hiện bất thường. Những triệu chứng này bao gồm cảm giác muốn đi tiểu cấp bách và đau rát vùng bàng quang hoặc niệu đạo trong khi tiểu. Bệnh nhân ít khi cảm thấy mệt mỏi, run rẩy, xanh xao hay đau cả khi không đi tiểu. Phụ nữ thường cảm thấy nặng khó chịu dưới xương mu, một số nam giới thì thấy đầy ở trực tràng. Bệnh nhân nhiễm trùng đường niệu thường than phiền chỉ tiểu được rất ít mặc dù cảm giác rất mắc tiểu. Nước tiểu thường trắng đục hoặc lợn cợn thậm chí có thể hơi đỏ nếu có máu. Nếu bị sốt thì có nghĩa nhiễm trùng đã lên tới thận. Các triệu chứng khác của nhiễm trùng thận gồm đau sau lưng hoặc hai bên hông dưới xương sườn, buồn ói hoặc ói.

Ở trẻ em, các triệu chứng nhiễm trùng đường niệu có thể không được chú ý hoặc bị che lấp bởi những rối loạn khác. Nên nghĩ đến nhiễm trùng đường niệu khi thấy đứa trẻ khó chịu, kém ăn, sốt không giảm không rõ nguyên nhân, tiểu không kiểm soát được (đái dầm) hoặc tiêu chảy, hoặc chậm lớn. Nên đưa trẻ đến khám bác sĩ nếu thấy có những triệu chứng trên, đặc biệt khi có những thay đổi bất thường trong nước tiểu của trẻ.

Chẩn đoán nhiễm trùng đường niệu như thế nào ?

Ðể phát hiện nhiễm trùng đường niệu, bác sĩ sẽ xét nghiệm mẫu nước tiểu tìm mủ và vi khuẩn. Bệnh nhân được đề nghị đưa mẫu nước tiểu "sạch" bằng cách rửa kỹ vùng sinh dục và lấy mẫu nước tiểu "giữa dòng" vào lọ chứa vô khuẩn. (Phương pháp lấy nước tiểu này ngăn chặn sự xâm nhập của vi khuẩn quanh vùng sinh dục vào mẫu xét nghiệm làm ảnh hưởng đến kết quả). Thường mẫu sẽ được gửi đến phòng xét nghiệm mặc dù một số phòng khám bác sĩ có thể được trang bị thực hiện các xét nghiệm này.

Trong xét nghiệm phân tích nước tiểu, nước tiểu sẽ được kiểm tra để phát hiện tế bào hồng cầu, bạch cầu và vi khuẩn. Sau đó vi khuẩn sẽ được nuôi cấy trong môi trường thích hợp và được thử nghiệm với các loại kháng sinh khác nhau để tìm ra loại thuốc điều trị hiệu quả nhất. Bước cuối cùng này được gọi là xét nghiệm thử độ nhạy.

Một số vi khuẩn như Chlamydia và Mycoplasma chỉ có thể được phát hiện với môi trường nuôi cấy đặc biệt. Bác sĩ nghi ngờ bệnh nhân bị nhiễm trùng loại này nếu người bệnh có triệu chứng nhiễm trùng đường tiểu và có mủ trong nước tiểu nhưng không cấy được vi khuẩn trên những môi trường thông thường.

Khi nhiễm trùng không được điều trị triệt để và sót lại cùng một dòng vi khuẩn, bác sĩ sẽ chỉ định một xét nghiệm đưa ra hình ảnh đường niệu. Một trong các phương pháp đó là chụp X quang bể thận qua tĩnh mạch (intravenous pyelogram- IVP). Nó sẽ đưa ra hình ảnh X quang của bàng quang, thận và niệu quản. Một chất nhuộm cản quang được tiêm vào tĩnh mạch trước khi chụp một loạt phim X quang. Phim X quang sẽ cho thấy lớp lót của đường niệu, bộc lộ những thay đổi dù rất nhỏ trong cấu trúc này.

Nếu bị tái nhiễm trùng, bác sĩ có thể đề nghị siêu âm để đưa ra những hình ảnh phản âm của những cơ quan bên trong. Một xét nghiệm hữu ích khác là soi bàng quang. Ống soi bàng quang là một dụng cụ tạo bởi một ống ngắn có rất nhiều thấu kính và nguồn sáng cho phép bác sĩ quan sát bên trong bàng quang qua niệu đạo

Nhiễm trùng đường niệu ở người lớn (Phần cuối) 

Phương pháp điều trị nhiễm trùng đường niệu

Nhiễm trùng đường niệu được điều trị bằng thuốc kháng sinh. Việc chọn lựa thuốc và thời gian điều trị phụ thuộc vào tiền sử bệnh nhân và loại vi khuẩn gây nhiễm biết được qua xét nghiệm nước tiểu. Thử nghiệm độ nhạy cảm giúp ích rất nhiều cho bác sĩ trong việc chọn lựa loại thuốc tốt nhất. Loại thuốc thường được dùng nhất để điều trị nhiễm trùng đường tiểu đơn thuần là trimethoprim (Trimpex), trimothoprim/sulfamethoxazole (Bactrim, Septra, Cotrim), amoxicillin (Amoxil, Trimox, Wymox), nitrofurantoin (Macrodantin, Furadantin), và ampicillin.

Thông thường, nhiễm trùng đường niệu được điều trị trong vòng 1 đến 2 ngày nếu tình trạng nhiễm trùng không đi kèm với sự tắc nghẽn hay rối loạn thần kinh. Tuy nhiên, nhiều bác sĩ cho bệnh nhân uống kháng sinh trong vòng 1 đến hai tuần để đảm bảo rằng sự nhiễm trùng đã hoàn toàn hết. Phương pháp điều trị bằng một liều duy nhất không nên dùng cho một số nhóm bệnh nhân, ví dụ, những bệnh nhân điều trị trễ hay có dấu hiệu nhiễm trùng thận, bệnh nhân bị tiểu đường hay bất thường cấu trúc hoặc những người đàn ông bị nhiễm trùng tuyến tiền liệt. Thời gian điều trị cũng phải lâu hơn ở những bệnh nhân bị nhiễm Mycoplasma hay Chlamydia, trường hợp này thường được điều trị bằng tetracycline, trimethoprim/sulfamethoxazole (TMP/SMZ), hay doxycycline. Cần làm thêm một xét nghiệm nước tiểu nữa để chắc chắn là đường niệu đã hết nhiễm trùng chưa. Ðiều này rất quan trọng đối với toàn bộ tiến trình điều trị bởi vì những triệu chứng có thể biến mất trước khi tình trạng nhiễm trùng được đẩy lùi hoàn toàn.

Ở những bệnh nhân nặng bị nhiễm trùng thận có thể phải nằm viện đến khi họ có thể tự uống thuốc được. Nhiễm trùng thận thường phải điều trị bằng kháng sinh trong vài tuần. Một số nghiên cứu ở Ðại học Washington cho thấy liệu pháp 2 tuần bằng TMP/SMZ cũng hiệu quả như phương pháp điều trị trong 6 tuần với cùng loại thuốc ở những phụ nữ bị nhiễm trùng thận mà không liên quan đến tình trạng tắc nghẽn hay rối loạn hệ thần kinh. Trong những trường hợp này, nhiễm trùng thận ít khi gây hủy hoại thận hay làm hư thận trừ khi họ không điều trị.

Rất nhiều loại thuốc có tác dụng giảm đau trong nhiễm trùng đường niệu. Một cái đệm nóng hay tắm nước ấm cũng có tác dụng. Nhiều bác sĩ khuyên nên uống nhiều nước để giúp làm sạch đường niệu. Trong lúc này, tốt nhất là tránh dùng cà phê, rượu, và thức ăn nhiều gia vị. (Ðiều mà một người hút thuốc có thể làm để tốt cho bàng quang của họ là bỏ thuốc. Hút thuốc lá được biết là một nguyên nhân chính gây ung thư bàng quang).

Các phương pháp điều trị tái nhiễm

Khoảng 4 trong 5 phụ nữ bị nhiễm trùng đường niệu sẽ bị lại trong vòng 18 tháng. Nhiều phụ nữ còn bị thường xuyên hơn. Một phụ nữ thường xuyên bị mắc bệnh này (từ 3 lần trở lên trong một năm) nên hỏi bác sĩ về một trong những cách sau đây:

Uống kháng sinh liều thấp ví dụ như TMP/SMZ hay nitrofurantoin mỗi ngày trong 6 tháng hoặc lâu hơn. (Nếu uống trước khi đi ngủ, thuốc sẽ được giữ lại trong bàng quang lâu hơn và có thể sẽ hiệu quả hơn). Một cuộc nghiên cứu ở Ðại học Washington được tài trợ bởi  NIH cho thấy liệu pháp này tỏ ra hiệu quả và không gây tác dụng phụ nghiêm trọng nào.

Uống một liều kháng sinh sau khi giao hợp.

Ðiều trị bằng kháng sinh trong thời gian ngắn (1 đến 2 ngày) khi xuất hiện triệu chứng.

Có thể dùng que thử nhanh, que thử sẽ đổi màu khi có sự nhiễm trùng.

Que thử sẽ dò tìm nitrite, chất được tạo thành khi vi khuẩn biến đổi nitrate trong nước tiểu thành nitite. Thử nghiệm này có thể phát hiện 90% trường hợp nhiễm trùng đường tiểu và rất hữu ích đối với phụ nữ hay bị nhiễm trùng.

Một số bác sĩ đề nghị thêm một số phương pháp để phụ nữ có thể tự phòng tránh nhiễm trùng:

1.      Uống thật nhiều nước mỗi ngày. Một số bác sĩ đề nghị uống nước trái man việt quốc, nó tác dụng tốt trong việc ức chế sự phát triển của vi khuẩn bằng cách acid hóa nước tiểu. Bổ sung thêm Vitamin C (Ascorbic Acid) cũng có tác dụng tương tự.

2.      Ði tiểu ngay khi bạn cảm thấy cần, không nên cố nhịn.

3.      Lau từ trước ra sau để tránh vi khuẩn ở xung quanh hậu môn xâm nhập vào âm đạo hay niệu đạo.

4.      Tắm bằng vòi sen thay vì tắm trong bồn.

5.      Làm vệ sinh vùng sinh dục trước khi giao hợp.

6.      Ði tiểu ngay trước và sau khi giao hợp.

7.      Tránh sử dụng thuốc xịt vệ sinh phụ khoa và vòi hương sen, vì có thể gây kích thích niệu đạo.

Phương pháp điều trị nhiễm trùng đường niệu ở thai phụ

Một phụ nữ đang mang thai bị nhiễm trùng đường niệu cần được điều trị ngay để tránh sanh non và những nguy cơ khác ví dụ như cao huyết áp. Một vài loại kháng sinh không an toàn cho phụ nữ mang thai. Trong việc chọn phương pháp điều trị, bác sĩ cân nhắc rất nhiều yếu tố như hiệu quả của thuốc, giai đoạn mang thai, sức khỏe của người mẹ, và những ảnh hưởng có thể xảy ra cho thai nhi.

Các biến chứng và cách điều trị

Nhiễm trùng đường niệu có thể xảy ra biến chứng khi dòng nước tiểu bị tắc nghẽn (tình trạng tắc nghẽn), nhiễm trùng ở một nơi khác hay toàn thân (nhiễm trùng huyết), và hạ huyết áp một cách nguy hiểm (sốc). Những tình trạng tiềm ẩn sau đây làm hư hại đường dẫn nước tiểu (ví dụ như sỏi thận hay các bệnh về hệ thần kinh dẫn đến suy bàng quang) có thể gây ra biến chứng. Ðiều trị nhiễm trùng xuất phát từ sự tắc nghẽn đường tiểu hay rối loạn hệ thần kinh phụ thuộc vào việc tìm ra các tình trạng tiềm ẩn và xử lý chúng, đôi khi cần phẫu thuật. Nếu căn nguyên gây bệnh không được điều trị, nhóm bệnh nhân này có nguy cơ bị tổn thương thận. Hơn nữa, sự nhiễm trùng này thường do nhiều loại vi khuẩn hơn, đôi khi có thể do nhiều loại vi khuẩn cùng một lúc.

Nhiễm trùng đường niệu ở nam giới

Nhiễm trùng đường niệu ít gặp ở nam. Nhiễm trùng thường do có một sự tắc nghẽn, ví dụ, một viên sỏi ở đường niệu hay tuyến tiền liệt to hay một thủ thuật y khoa có sử dụng ống thông. Bước đầu tiên là tìm ra vi sinh vật gây nhiễm trùng và thuốc mà nó nhạy cảm. Thông thường, ở nam giới, bác sĩ đề nghị một quá trình điều trị lâu hơn nữ để tránh nhiễm trùng tuyến tiền liệt. Nhiễm trùng tuyến tiền liệt khó điều trị hơn bởi vì kháng sinh không thể xâm nhập vào mô tuyến tiền liệt một cách hiệu quả được. Vì vậy, đàn ông bị nhiễm trùng tuyến tiền liệt thường phải điều trị lâu và chọn lựa kỹ kháng sinh.

Những điều cần nhớ về nhiễm trùng đường niệu ở người lớn

Ðường niệu bao gồm thận, niệu quản, bàng quang, niệu đạo.

Một số người có nguy cơ bị nhiễm trùng đường niệu nhiều hơn người khác.

Một phần năm số phụ nữ bị nhiễm trùng đường niệu ít nhất một lần trong cuộc đời họ.

Không phải ai bị nhiễm trùng đường niệu cũng có triệu chứng. Triệu chứng thường gặp là hay mắc tiểu và rát, buốt khi đi tiểu.

Những tình trạng tiềm ẩn làm hư hại đường dẫn nước tiểu có thể gây ra nhiễm trùng đường niệu có biến chứng.

 

 

 

Các bài mới đăng
.
                   Trang chủ        Diễn đàn        Tư vấn sức khỏe        Nghiên cứu khoa học        Gửi tài liệu của bạn        Bài viết của bạn        Giới thiệu       
 

 

©  Bản quyền thuộc yduocvn.com

Tài liệu trên website được sưu tầm từ nhiều nguồn khác nhau, ghi rõ nguồn từ yduocvn.com nếu phát hành lại thông tin từ website này
Thông tin trên website chỉ mang tính chất tham khảo và không thay thế được chỉ định trực tiếp của bác sỹ.
Xin chân thành cảm ơn các bạn ở khắp nơi đã gửi tài liệu cho chúng tôi.

  New Page 1