Thăm dò ý kiến
|
Bạn đang xem Hồi sức CC, chống độc
trong Nội khoa
30/4/2010 16:42:09
Ngộ độc paracetamol
(Yduocvn.com) - I. Giới thiệu:
Paracetamol là một thuốc giảm đau, hạ sốt được sử dụng rộng rãi nhất, hiện có trên 100 sản phẩm thuốc khác nhau có chứa paracetamol. Đây là một thuốc nói chung an toàn, nhưng khi dùng quá liều có thể gây ngộ độc, chủ yếu là gây hoại tử tế bào gan.
(BS.Nguyễn Trung
Nguyên) Các tên khác:
Acetaminophen
APAP
4'-Hydroxyacetanilide
N-acetyl-p-aminophenol
N-(4-Hydroxyphenyl)acetamide
Paracetamolum
Paracetamol
II. Dược động học và độc tính: Với liều điều trị,
sau uống khoảng 1 giờ thuốc được hấp thu hoàn toàn. Khi dùng quá liều, thuốc
được hấp thu hết sau 4 giờ, ngoại trừ khi bệnh nhân uống đồng thời các thuốc
làm chậm quá trình rỗng dạ dày và khi thuốc ở dạng giải phóng chậm thì thời
gian hấp thu lâu hơn, tuy nhiên người ta cũng mới chỉ thấy nồng độ đỉnh đạt
được sau uống lâu nhất là 16 giờ. Thuốc được chuyển
hoá ở gan với một tốc độ đều đặn và có thể đoán trước được diễn biến. Nửa đời
sống là 2,5-3 giờ, có thể kéo dài hơn ở bệnh nhân tổn thương gan. 10% thuốc gắn
với protein. Quá trình chuyển
hoá thuốc là căn nguyên dẫn đến ngộ độc. Paracetamol là một trường hợp hiếm hoi
về tình trạng nhiễm độc thuốc do gan (ngược hẳn với hoạt động khử độc bình
thường của gan). 90% thuốc được chuyển hoá theo con đường sunphat hoá và
glucuronit hoá, phần còn lại được hệ enzym cytochrome P-450 chuyển hoá nốt (hệ
này chủ yếu ở gan). Hoạt động chuyển hoá phụ thuộc theo tuổi, ở tuổi càng nhỏ
thì chuyển hoá theo con đường sunphat càng nhiều, đến 12 tuổi thì chuyển hoá
paracetamol ở trẻ em giống người lớn. Một chất chuyển hoá do hệ enzym
cytochrome P-450 giải phóng là N-acetyl-p-benzoquinoneimine (NAPQI) gây độc với
gan. Chất này có thời gian tồn tại rất ngắn với nửa đời sống chỉ tính bằng na
nô giây. NAPQI gắn với màng tế bào gan và nếu không bị trung hoà bởi các chất
chống ôxy hoá thì sẽ gây tổn thương lớp màng lipid kép của tế bào. Glutathione
của gan là chất chống ôxy hoá chủ yếu, chất này gắn và trung hoà NAPQI. Khi quá liều
paracetamol thì kho dự trữ glutathione bị cạn kiệt dần và nếu thiếu hụt mất
trên 70% số lượng bình thường thì NAPQI không bị trung hoà và sẽ gây tổn thương
cho tế bào gan. Hệ enzym cytochrome
P-450 gồm một số họ enzym, đặc biệt là cyp2E1 và cyp1A2, phần lớn lượng NAPQI
tạo ra là do cyp2E1. Về mặt lý thuyết, tất cả các chất ảnh hưởng hệ enzym này
đều ảnh hưởng đến lượng NAPQI tạo ra. Các chất có thể gây cảm ứng với cyp2E1
bào gồm ethanol, INH, rifampin, phenytoin, và carbamazepine, các chất có thể
gây cảm ứng với cyp1A2 gồm khói thuốc lá và thực phẩm hun bằng than củi. Những
người dùng thuốc chống động kinh kéo dài, nghiện rượu, dùng thuốc chống lao kéo
dài có diễn biến của quá liều paracetamol tồi hơn đối tượng khác. Trẻ em dưới 5
tuổi tỏ ra có khả năng đề kháng với các tác dụng độc của paracetamol, nguyên
nhân người ta chưa rõ. NAPQI có thời gian
tồn tại rất ngắn nên chỉ gây tổn thương cho tế bào đã giải pgóng ra nó. Tổn
thương mô học đặc trưng là hoại tử trung tâm tiểu thuỳ mà không ảnh hưởng đến
khoảng quanh cửa. III. Lâm sàng: Liều gây ngộ độc là
150mg/kg cân nặng. Các biểu hiện ngộ độc có thẻ chia thành 4 giai đoạn, ban đầu
biểu hiện bởi buồn nôn, nôn, có khi ngủ lịm (do tác dụng trực tiếp của
paracetamol và hết sau 12 – 18 giờ): Giai đoạn 1 (0,5 – 24
giờ): Chán ăn, buồn nôn, nôn thường gặp. Vã mồ hôi, khó chịu. Có thể tăng GOT, GPT. Bệnh nhân bên ngoài có thể tỏ ra bình thường. Giai đoạn 2 (24 – 72
giờ): Chán ăn, buồn nôn, nôn trở nên ít nội bật. Có thể đau hạ sườn phải. GOT, GPT tiếp tục tăng. Bilirubin có thể tăng Prothrombin có thể tăng. Chức năng thận có thể suy giảm. Giai đoạn 3 (72 – 96
giờ): Đặc trưng bởi hậu
quả của hoại tử tế bào gan: hoàng đảm, rối loạn đông máu, suy thận và bệnh lý
não do gan. Sinh thiết gan thấy
hoại tử trung tâm tiểu thuỳ. Có thể tử vong do
suy đa tạng. Giai đoạn 4 (4 – 14
giờ): Nếu bệnh nhân sống
thì chức năng gan hồi phục hoàn toàn và tổ chức gan lành trở lại, không để lại
dấu vết của tổ chức xơ hoá. Tiêu hoá: Biểu hiện tổn
thương gan bằng tăng GOT, GPT, có thể xuất hiện sớm tới 8 giờ sau và hơn 1/2 số
bệnh nhân bị tổn thương gan sẽ biểu hiện trong vòng 24 giờ đầu. Hoạt độ
các enzym này có thể tăng đến đỉnh điểm 50.000 IU/L sau 48 – 72 giờ và trở về
bình thường trong 2 tuần. Bệnh nhân có tăng GOT, GPT trên 1000 IU/L thường biểu
hiện suy gan trong 24 – 72 giờ sau, biểu hiện bởi tăng prothrombin và
bilirubin. Những bệnh nhân cuối cùng sẽ tử vong hoặc đòi hỏi phải ghép gan tiến
triển sang hoại tử gan (hoàng đảm, bệnh lý não do gan, hội chứng gan thận, rối
loạn đông máu. Tử vong do suy đa tạng thường xuất hiện sau 72 – 96 giờ. Các nghiên cứu về
kết quả cuối cùng của ngộ độc paracetamol cho thấy nhiễm độc nặng với gan khi
GOT hoặc GPT tăng trên 1000 IU/L. Khoảng 3,5 % các bệnh nhân nhiễm độc nặng với
gan sẽ có suy gan tối cấp và chưa đến 1/2 số bệnh nhân này sẽ tử vong hoặc đòi
hỏi ghép gan. Tử vong hầu hết do phù não hoặc nhiễm trùng. Một số yếu tố báo
hiệu sớm về việc khả năng sống sót giảm đi ở bệnh nhân suy gan tối cấp: pH <
7,3, thời gian prothrombin trên 100 sec cùng với creatinin máu trên 3,4mg/dL,
prothrombine tiếp tục tăng sau 4 ngày ngộ độc. Trong một nhóm nhỏ bệnh nhân
nhiễm độc nặng với gan thì nồng độ paracetamol ban đầu và việc điều trị bằng
N-acetylcysteine (NAC) không có giá trị dự báo về việc tiến triển thành suy gan
tối cấp. Cũng như vậy, GOT và GPT không có giá trị tiên lượng. Những bệnh nhân
không tử vong sẽ hồi phục chức năng gan hoàn toàn và không để lại sẹo hoá sau
30 ngày. Gan là cơ quan
chính bị nhiễm độc. Các cơ quan khác hiếm khi bị ảnh hưởng ngay sau khi quá
liều. Suy đa tạng xuất hiện vài ngày sau khi bị ngộ độc và chỉ xuất hiện khi bị
nhiễm độc nặng với gan. Cơ chế của tổn thương các cơ quan khác ngoài gan vẫn
chưa rõ. Dạ dày ruột: buồn nôn, nôn. Tuỵ: tăng amylase máu. Hô hấp: Tổn thương phổi gây phù phổi cấp không do tim. Tim mạch: Gây tổn thương cơ tim, ST chênh, tăng CKMB. Tiết niệu: hoại tử ống thận, đái máu, protein niệu. Máu: tan máu ở người thiếu G6PD, giảm tiểu cầu. Chuyển hoá: toan chuyển hoá (nặng và rõ sau 3-4 ngày),
hạ đường máu (suy gan). Thân nhiệt: hạ thân nhiệt nhẹ. Điện giải: hạ phospho máu. IV. Dự báo nhiễm độc với gan: Người ta thấy diễn
biến tự nhiên của các trường hợp ngộ độc paracetamol được điều trị hỗ trợ đơn
thuần có liên quan đến nồng độ paracetamol trong máu theo thời gian sau uống.
Sau khi quá liều 4 – 8 giờ, 60% các bệnh nhân có nồng độ paracetamol nằm trong
vùng nguy cơ cao (mức trên đường kẻ liên tục trong đồ thị) sẽ bị nhiễm độc gan
mức độ nặng. Đồ thị do Rumack và
các cộng sự đưa ra vẫn là chuẩn mực cho việc điều trị. Theo đó 3 mức độ nguy cơ
được đưa ra là: có thể (possible), rất có thể (probable) và nguy cơ cao (high).
Đường kẻ thứ 3 tính từ trên xuống biểu hiện độ an toàn 25%, dành cho các trường
hợp chênh lệch về kết quả xét nghiệm giữa các labo và không chác chắn về thơì
điểm bệnh nhân uống. Giá trị nồng độ sớm nhất được đưa lên đồ thị là sau 4 giờ,
nếu lấy máu xét nghiệm muộn hơn 20 giờ thì khả năng tìm thấy paracetamol sẽ rất
khó, tuy nhiên nếu nồng độ đo được là từ 10mg/ml trở lên (giá trị thấp nhất mà máy xét
nghiệm của nhiều labo có thể xác định được) thì cũng được coi là nồng độ gây
độc. Các xét nghiệm cần
làm khi bệnh nhân mới vào viện: Lấy máu đinh lượng
nồng độ paracetamol (ghi rõ giờ thứ bao nhiêu sau dùng paracetamol), xét nghiệm
để xác định giá trị nền của GOT, GPT, bilirubin, prothrombine, urê, creatinin,
xét nghiệm HCG sàng lọc khi bệnh nhân nữ ở tuổi sinh đẻ, các xét nghiệm sàng
lọc về độc chất khác, các xét nghiệm loại trừ viêm tuỵ cấp khi bệnh nhân nôn
nhiều V. Dùng thuốc giải độc: Cysteamine,
methionine và NAC đều là các tiền chất hoặc chất thay thế glutathione.
Cysteanine mặc dù hiệu quả nhưng có nhiều tác dụng có hại không thể chấp nhận
được như buồn nôn, nôn, chóng mặt và đặc biệt và độc với tim và hiện nay không
được dùng nữa. Methionine, mặc dù an toàn nhưng không được hiểu quả lắm. Trong
khi đó NAC lại vừa an toàn và hiệu quả. Cùng với việc là chất thay thế, NAC còn
tăng cường quá trình tổng hợp glutathione và tăng lượng paracetamol chuyển hoá
theo con đường sunphat. Cimetidine phong
toả hệ enzym cyt P-450 cũng được cho là có tác dụng làm giảm độc tính của quá
liều paracetamol nhưng số liệu thực tế về việc dùng thuốc này vẫn chưa đầy đủ. Các thuốc: Disulfiram (Poulsen et al, 1987;
Jorgensen et al, 1988) Chlorpromazine (Saville et al, 1988)
Picroliv (Visen et al, 1991) Diltiazem (Satorres, 1995; Deakin et
al, 1991) Cystathionine (Kitamura et al, 1989)
Fructose (Mourelle et al, 1991) Propylene glycol (Hughes et al,
1991) Hypothermia (Block et al, 1992) Deferoxamine (Sakaida et al, 1995;
Ito et al, 1994) Clofibrate (Manautou et al, 1994) Prostaglandin E2 (Monto et al, 1994)
4-Methylpyrazole (Brennan et al,
1994) Misoprostol (Lim et al, 1994) Taurine (Waters et al, 2001) VI. Điều trị: Các biện pháp A,B,C: Theo nguyên tắc chung, trước khi áp
dụng các biện pháp khác, bao gồm hỗ trợ các chức năng sống, đặc biệt về hô hấp,
tuần hoàn và thần kinh khi các dấu hiệu sống không ổn đinh. Vì tình trạng bệnh
nhân có thể nặng do đến muộn hoặc ngộ độc các chất khác đồng thời. Loại bỏ chất độc: Rửa dạ dày: Tiến hành khi bệnh nhân
đến bệnh viện sớm, trong vòng 4 giờ đầu. Có thể tiến hành ở các bệnh nhân đến
muộn khi bệnh nhân uống các thuốc làm chậm quá trình lưu chuyển thuốc qua dạ
dày, các chế phẩm thuốc dạng giải phóng chậm. Số lượng dịch rửa 3-5 lít, dung
dịch nước pha muối ăn 5g/lít. Than hoạt: Dùng một liều than hoạt khi bệnh nhân
đến trong vòng 4 – 6 giờ đầu, mặc dù than hoạt hấp phụ thực sự NAC và có thể
làm giảm nồng độ chất này trong máu đến 29% nhưng chưa có ý nghĩa lâm sàng và
không cần thiết phải tăng số lượng than hoạt lên và không cần phải đợi than
hoạt ra hết khỏi dạ dày mới cho NAC. Với phác đồ dùng NAC như hiện nay, người
ta thấy có các bằng chứng gợi ý rằng liều NAC vượt xa lượng NAC thực tế cần
đến. Quan sát thực tế người ta thấy ở tất cả các bệnh nhân được dùng NAC trong
vòng 8 giờ đầu sau quá liều đều có kết quả cuối cùng tốt như nhau, ngay cả sau
khi quá liều paracetamol số lượng lớn. Tuy nhiên điều này không có nghĩa muốn
nói rằng chúng ta không cần tuân thủ chặt chẽ phác đồ hiện đang dùng. Trường
hợp ngộ độc thuốc phối hợp và phải dùng than hoạt đa liều thì có thể cho xen kẽ
than hoạt và NAC cách nhau 1-2 giờ. Người ta chưa xác định được liều lượng
than hoạt tối ưu, nói chung liều là 1g/kg cân nặng. NAC: Chỉ định dùng NAC: cho tất cả các
bệnh nhân nghi ngờ hoặc được chẩn đoán ngộ độc hoặc quá liều có nguy cơ ngộ độc
paracetamol: Bệnh nhân dùng paracetamol với liều từ
140mg/kg cân nặng trở lên, liều độc này có thể thấp hơn ở các bệnh nhân có suy
gan từ trước (xơ gan, nghiện rượu, viêm gan mạn,…), suy dinh dưỡng, đang dùng
thuốc chống lao hoặc các thuốc độc với gan. Nồng độ paracetamol máu ở trên đường
khuyến cáo điều trị (của đồ thị biểu diễn nồng độ paracetamol máu sau quá liều
paracetamol). Bệnh nhân quá liều paracetanol đến viện
khi đã bị viêm gan. Bệnh nhân dùng paracetamol quá liều
nhưng không biết chắc chắn liều. Dùng paracetamol không rõ liều sau đó
bị viêm gan và đã loại trừ các nguyên nhân gây viêm gan khác. Dùng NAC càng sớm càng tốt một khi
đã có chỉ định. Dùng càng muộn thì nguy cơ viêm gan càng cao, đặc biệt nếu dùng
sau quá liều 8 giờ trở lên. Tuy nhiên, ngay cả khi viêm gan đã xuất hiện thì
NAC vẫn có tác dụng tốt trong việc ngăn cản (nếu còn paracetamol) và điều trị
viêm gan. NAC còn được thấy có tác dụng tốt trong tất cả các trường hợp viêm
gan nhiễm độc do các nguyên nhân khác. Nói chung, khi bệnh nhân đến viện
trong vòng 8 giờ đầu và đã dùng liều paracetamol tới mức độ có thể gây ngộ độc
như trên thì trong thời gian chờ đợi kết quả định lượng độc chất cần dùng NAC
và khi sau khi biết được nồng độ này sẽ quyết định dùng tiếp hay không. Với phu
nữ có thai, khi lượng paracetamol dùng có nguy cơ gây ngộ độc thì cần dùng ngay
NAC bất kể đến viện sau thời gian bao lâu (xin đề cập sau). * Có nhiều quy trình dùng NAC: Quy trình dùng NAC đường uống 72 giờ:
18 liều NAC Dùng 1 liều ban đầu là 140mg/kg cân
nặng, sau đó là 17 liều, 70mg/kg cân nặng/1 liều, khoảng thời gian giữa các
liều là 4 giờ, pha thuốc với nước thành dung dịch nồng độ 5% hoặc loãng hơn, có
thể cho thêm nước quả để dễ uống. Với bệnh nhân đã bị viêm gan do chưa
dùng hoặc dùng NAC muộn: dùng NAC với liều như phác đồ 18 liều và kéo dài liên
tục 70mg/kg/lần và 4 giờ/lần tới khi tình trạng viêm gan hồi phục trở về gần
bình thường hoặc bình thường. Bệnh nhân thường có nôn, và cần chống
nôn tích cực: Metoclopramide (primperan 10mg) tiêm tĩnh mạch, nếu không đỡ có
thể nhắc lại, tổng liều 1mg/kg cân nặng. Có thể cho thêm Diphenhydramine
(Dimedron 10mg) để tránh tác dụng làm mất trương lực của metoclopramide, đặc
biệt ở người trẻ. Các thuốc khác dùng khi kiểm soát được nôn: Ondansetron, Droperidol
(nếu không có thuốc này thì có thể dùng chlopromazin hoặc haloperidol). Nếu nôn
vẫn tiếp tục thì đặt sonde dạ dày và nhỏ giọt dung dịch NAC qua sonde dạ dày
trong 30 phút. Nếu vẫn không đỡ nôn thì chuyển bệnh nhân đến cơ sở có NAC dạng
truyền tĩnh mạch hoặc nếu không có thì truyền tĩnh mạch dung dịch NAC dạng uống
nhưng phải qua một màng lọc chuyên dụng (có các lỗ cực nhỏ nhỏ cỡ 25 m để lọc các chất gây sốt và chất tạp). Tuy nhiên biện pháp
này không được khuyến cáo áp dụng thường quy. Sau khi bệnh nhân nôn và nghỉ một
lát cần dùng lại NAC với tốc độ từ từ hơn và theo dõi. Quy trình dùng NAC truyền tĩnh mạch
20 giờ: Liều ban đầu là 150mg/kg cân nặng,
truyền trong 15 phút, tiếp theo là 50mg/kg truyền trong 4 giờ, sau đó là
100mg/kg truyền trong 20 giờ (tổng liều là 300mg/kg). Quy trình dùng NAC truyền tĩnh mạch
48 giờ, 13 liều: NAC dạng truyền tĩnh mạch (0,2g/ml), pha loãng tỷ lệ 1/5 với glucose 5%,
truyền trong 1 giờ cho mỗi lần. Liều ban đầu: 140mg/kg, tiếp theo 12 liều sau: 70mg/kg, các liều cách nhau
4 giờ. * Các quy trình dùng NAC có hiệu quả ngang nhau. * Tác dụng có hại do
thuốc: NAC đường uống: buồn nôn, nôn với tỷ lệ cao, sốc phản vệ 2 –
3%. NAC tĩnh mạch: 3 – 14 % tác dụng có hại: đỏ da vị trí truyền,
mẩn ngữa, co thắt phế quản, sốt, phản vệ. Methionine: 2,5 gam uống/lần và 4 giờ/lần, dùng 4 lần (tổng liều 10 gam/12
giờ) Theo dõi xét nghiệm: Theo dõi hàng ngày các xét nghiệm GOT, GPT, GGT, bilirubin, prothrombin,
phân tích nước tiểu, urê, đường, creatinin, điện giải. Các điều trị hỗ trợ khác. Lọc máu: tăng tỷ lệ sống sót. Ghép gan: kết quả hạn chế. VII. Các trường hợp
đặc biệt: 1. Phụ nữ có thai: - Paracetamol là thuốc
hạ sốt giảm đau được khuyên dùng ở phụ nữ có thai, người ta chưa thấy có tác
dụng gây quái thai của thuốc này. Tuy nhiên khi quá liều paracetamol có thể gây
độc với thai vì thuốc này dễ dàng qua được nhau thai và ở thời điểm 14 tuần, bào
thai đã có khả năng chuyển hoá paracetamol và tạo ra NAPQI. Việc chậm trễ điều
trị có thể dẫn đến tử vong của bào thai. Trong khi đó người ta thấy trên động
vật, NAC dễ dàng qua được nhau thai. Do đó, người ta khuyến cáo dùng NAC sớm
khi người mẹ dùng một lượng paracetamol có thể gây ngộ độc trong khi chờ đợi
kết quả xét nghiệm nồng độ paracetamol trong máu. 2. Người nghiện rượu: - Những người nghiện
rượu khi có quá liều paracetamol có nguy cơ ngộ độc cao hơn và một số nghiên
cứu cũng thấy tỷ lệ tử vong cao hơn người bình thường. Một số tác giả khuyến
cáo hạ thấp nồng độ paracetamol trong đồ thị của Rumack ở giờ thứ 4 xuống đến
mức 100mg/ml ở đối tượng bệnh
nhân này. Tính dễ bị ngộ độc paracetamol ở đây có lẽ do dự trữ glutathione bị
giam khi nghiện rượu và lượng NAPQI tạo ra nhiều hơn do hiện tượng entanol gây
cảm ứng hệ enzym cyp2E1. 3. Quá liều
paracetamol kéo dài: - Liều paracetamol dùng
hàng ngày được khuyến cáo là 4 gam với người lớn và 90mg/kg cân nặng với trẻ
em. Khi dùng với liều cao hơn kéo dài có thể gây ngộ độc. - Quá liều mạn tính
paracetamol thường do sai lầm về điều trị trong các hoàn cảnh sau: (1) Bệnh nhân tăng
dần liều hàng ngày do tin rằng thuốc an toàn (2) sử dụng thêm các biệt dược
khác có cũng chứa paracetamol hoặc (3) bệnh nhân là trẻ em nhưng lại dùng các
biệt dược chứa paracetamol của người lớn. - Một số đối tượng
có nguy cơ cao: + Những bệnh nhân
nhin đói: do chuyển hoá paracetamol theo con đường glucuronit hoá bị giảm và
tăng chuyển hoá qua hệ cyp2E1, dẫn tới việc tạo ra nhiều NAPQI hơn. + Uống rượu trong
vòng 5 ngày trước đó hoặc nghiện rượu: do ethanol gây cảm ứng hệ enzym cyp2E1
và lượng glutathione bị cạn kiệt do dùng rượu liên tục. Hơn nữa, ngộ độc
paracetamol ở người nghiện rượu có thể dễ bị bỏ qua do hiện tượng tăng
transaminase được nghĩ là do nghiện rượu (một hiện tượng cũng thường gặp). Việc
biết được giá trị transaminase nền của một bệnh nhân nghiện rượu sẽ giúp chẩn
đoán được nguyên nhân gây viêm gan ở đối tượng này. ở bệnh nhân nghiện rượu,
AST dưới 300 IU/L, ALT bình thường hoặc hơi tăng, giá trị AST thường cao gấp
hơn hai lần ALT. Trong khi đó việc dùng paracetamol quá liều kéo dài ở một bệnh
nhân nghiện rượu làm cho AST tăng trên 300 IU/L, mặc dù tỷ lệ giữa AST và ALT
không thay đổi. + Với những bệnh
nhân đến viện có một quá trình dùng paracetamol quá liều kéo dài có hoặc không
có tiền sử nghiện rượu thì vẫn cần thiết phải thay đổi việc điều trị. Ngay khi
các bệnh nhân này đến bệnh viện thì cần được làm các xét nghiệm để biết được
giá trị nền của nồng độ paracetamol máu, AST, ALT, bilirubin và prothrombinvà
dùng ngay NAC trong khi chờ đợi kết quả xét nghiệm. Chúng ta không thể sử
dụng đồ thị về nồng độ paracetamol như trên để quyết định việc điều trị. Thực
tế chưa có nghiên cứu nào chứng minh hiệu quả của NAC trong hoàn cảnh quá liều mạn
tính paracetamol. Tuy nhiên, dường như là hãy cẩn thận và tiếp tục dùng NAC nếu
tìm thấy paracetamol trong máu hoặc giá trị AST hoặc ALT tăng. 4. Việc điều trị muộn
các trường hợp quá liều paracetamol: NAC khi được dùng
sớm (trước 24 giờ sau uống nếu dùng NAC dạng uống, trước 15 giờ nếu dùng NAC 20
giờ dạng truyền tĩnh mạch) thì sẽ hữu ích ở tất cả các bệnh nhân có nồng độ
paracetamol ở mức có thể gây ngộ độc. Hơn nữa dùng NAC muộn ở các bệnh nhân bị
viêm gan tối cấp cũng hữu ích. Mặc dù việc dùng NAC muộn không làm thay đổi các
dấu ấn sinh học về chức năng gan như thời gian prothrombin, một dấu ấn đã được
chứng minh là cho thấy cải thiện khả năng sống sót và giảm tỷ lệ phù não cũng
như tỷ lệ tụt huyết áp đòi hỏi phải dùng thuốc vận mạch. Trong một nghiên cứu
tiến cứu được làm ngẫu nhiên, tỷ lệ sống sót đã cải thiện 20% ở những bệnh nhân
chỉ được áp dùng các biện pháp điều trị tích cực với gan khi so sánh với tỷ lệ
48% ở những bệnh nhân được dùng NAC muộn. Các nhóm bệnh nhân ở nghiên cứu này
đã rất tương xứng với nhau về tuổi, giới tính và thời gian đến bệnh viện. ở đây
việc dùng NAC đã được tiếp tục cho đến khi bệnh nhân quá khỏi tình trạng bệnh
lý não hoặc bị tử vong. Không như methionin, việc dùng NAC an toàn ở cả các
bệnh nhân có bệnh lý não. Tác dụng có ích của NAC người ta vẫn chưa hiểu hết
nhưng có thể một phần do cải thiện ô xy hoá của tổ chức não. 5. Paracetamol dạng
giải phóng chậm: - Tylenol-ER là một
chế phẩm mới và độc nhất vô nhị của paracetamol được đưa ra thị trường vào năm 1995.
Viên thuốc này ở một phía có chứa 325 mg paracetamol dạng giải phóng ngay lập
tức và phía kia có chứa 325mg ở trong bao để được giải phóng chậm. Với liều điều
trị, các nghiên cứu trên thí nghiệm của nhà sản xuất đã cho thấy 88% thuốc được
giải phóng trong vòng 3 giờ và 95% được giải phóng trong 5 giờ. Các số liệu
tương tự khi tăng số lượng thuốc uống gấp 10 liều điều trị. Thế nhưng các tác
giả khác lại thấy rằng tỷ lệ hoà tan của thuốc giảm khi số lượng viên thuốc tăng
lên. Do đó, bởi vì thuốc này làm thay đổi động học hấp thu trong cơ thể và các
số liêu lại chưa đầy đủ nên khi đánh giá nồng độ paracetamol dựa vào đồ thị trên
cần phải thận trọng. Có một cách là xét nghiệm nồng độ paracetamol trong máu 3
lần, lần thứ nhất ít nhất 4 giờ sau quá liều, các lần lấy máu sau cách lần thứ
nhất và cách nhau 2 giờ. Hiển nhiên là dùng ngay NAC nếu nồng độ paracetamol
của một trong ba lần xét nghiệm vượt trên đường khuyến cáo điều trị. Cân nhắc
dùng NAC nếu nồng độ thứ hai cao hơn nồng độ thứ nhất hoặc có một nồng độ cao
hơn 1/2 giá trị giới hạn của nồng độ có thể gây ngộ độc ở trên đồ thị vào cùng
thời điểm. Giá trị ẵ này có tính chất thận trọng, được bắt nguồn từ một nghiên
cứu cắt ngang, mù đôi, ngẫu nhiên và tiến cứu ở những người tình nguyện uống
75mg/kg paracetamol. Nghiên cứu ngày thấy rằng nồng độ đỉnh của paracetamol sau
uống một liều Tylenol-ER chỉ bằng 57% giá trị mà nhà sản xuất đã đưa ra. Việc
xử trí bất kỳ một trường hợp quá liều Tylenol-ER nên cần được thảo luận với một
nhà độc chất học hoặc trung tâm chống độc. Tài liệu tham khảo: Holly Perry, MD, Michael W. Shannon, MD, MPH (1997) Acetaminophen.
Poisoning and drug overdose. P 664-673. Martin J.Smilkstein (1998). Acetaminophen. Toxicology
emergency, p 541-560. MICROMEDEX(R) Healthcare Series (2002), Vol. 111,
acetaminophen-acute.
Người đăng: admin
Cấp cứu rắn độc cắn
(7/5/2010)
Xử trí điện giật
(5/5/2010)
Chẩn đoán xử trí Suy hô hấp
(30/4/2010)
Cấp cứu dị vật đường thở, đường ăn
(30/4/2010)
Đại cương gây mê - gây tê / phần 2
(30/4/2010)
Đại cương gây mê - gây tê / phần 1
(30/4/2010)
Cấp cứu ngừng hô hấp - tuần hoàn
(30/4/2010)
Ngộ độc Cocain
(30/4/2010)
Định hướng chẩn đoán trước bệnh nhân hôn mê
(30/4/2010)
Hôn mê do suy giáp trạng
(30/4/2010)
Các hội chứng ngộ độc thường gặp
(30/4/2010)
Hôn mê do tăng áp lực thẩm thấu
(30/4/2010)
Chẩn đoán xử trí hôn mê
(30/4/2010)
Hôn mê tăng áp lực thẩm thấu - Sau ĐH
(30/4/2010)
Ngộ độc thuốc gây nghiện
(30/4/2010)
|
Tin đọc nhiều nhất
Download tài liệu mới
.
|
| Trang chủ Diễn đàn Tư vấn sức khỏe Nghiên cứu khoa học Gửi tài liệu của bạn Bài viết của bạn Giới thiệu | ||
|
© Bản quyền thuộc yduocvn.com
Email: Nguyentanghoa@gmail.com hoặc điện thoại: 0944 549 668 |
||


Chạy thận nhân tạo toàn tập